TRAN XUAN AN - SEN DO, BAI THO HOA BINH

Thursday, November 24, 2005

TRẦN XUÂN AN

SEN ĐỎ,
BÀI THƠ HÒA BÌNH 3

Phần III



32



Vũ Thương Hoài nhìn đồng hồ tay rồi đồng hồ treo tường, thấy đã quá giờ tan sở. Cô bình tĩnh chờ bố. Không còn cách nào khác, phải nói để bố rõ thêm một lần cuối. Không thể muộn hơn được nữa. Thương Hoài tự bảo với mình như thế. Trước và sau ngày đám cưới của cô với Đào Hải, Thương Hoài đã trình bày vấn đề, thuyết phục ông Vũ Hồng Ngà. Ông vẫn khăng khăng, dứt khoát với câu nói "đời là thế", mặc dù ông thừa hiểu đâu phải mọi việc ở đời đều nói bừa thế, và rồi cứ thế. Thương Hoài cũng đã từng buông xuôi trước những bất công, bất bình đẳng, phi lí có thể sửa đổi, cải thiện được, bởi bất công, bất bình đẳng, phi lí ấy hoàn toàn có lợi cho cô và bố mẹ. Cô cũng chưa từng nếm vị đắng cay của "đời là thế" trên bình diện quan hệ xã hội. Có điều, từ độ vào làm việc ở cơ quan thanh tra, cô mới hiểu nỗi đau của bao người thấp cổ bé miệng. Vụ Hãng bị ông Vũ Hồng Ngà "thuyết phục" và sau đó, bị "bịt miệng", làm nhục có tính toán bởi Hoài Nhớ, rồi chính Hoài Nhớ cũng bị "bịt miệng" bởi ông, là một cái tát làm trái tim cô thức tỉnh khỏi sự mê muội của cô gái được sinh ra từ quyền lực và thủ đoạn. Cô gái mê muội ấy là Thương Hoài.
Cách đây bốn tháng, Hãng miệt mài ở công trường để cải tạo mặt bằng một quảng trường cũ kĩ, chật hẹp, nhằm thi công đồ án "Ngã năm Cái Chuông Rạn" theo đề xuất của Quận. Anh đã bị lỗ lã nặng cũng bởi sự ăn cánh giữa ông Ngà và Nguyễn Đồng Triệu. Tiếp theo đó, với một vài công trình khác, với sự lừa bịp bằng các thủ đoạn khác, cả Thắp, Sim Mua lẫn Sóng đều trở thành con nợ của Triệu. Tất cả các âm mưu đều có tay ông Ngà dính vào. Vũ Thương Hoài đã trực tiếp điều tra, nắm rõ.
Ông Vũ Hồng Ngà đã bị các tư sản nước ngoài, qua Gion, người Úc (thật ra, Gion là gián điệp CIA. của Mỹ!), và tư sản nội địa, như Triệu, "mua đứt". Ông Ngà "bán" hết mọi quyền hạn để thủ lợi và củng cố quyền lực - cái mà danh từ luật học cũ gọi là "hối mại quyền thế".
Hôm đến cơ sở Sen Đỏ, lúc bốn anh em, bè bạn chung vốn làm ăn đã bị cột chặt vào Triệu, Thương Hoài có bảo:
- Em sẽ giúp anh Hãng và các anh, chị vay vốn.
- Vay ở đâu hở Thương Hoài? - Hãng hỏi.
- Của em và ở ngân hàng. Em có quen một giám đốc...
- Thương Hoài cho chúng anh vay của riêng bao nhiêu?
- Ba trăm triệu của ngân hàng. Vàng riêng em chỉ vài... lạng thôi.
- Không ngờ Thương Hoài quyền và tốt thế - Hãng cười.
Thắp cười gằn sau một quãng khá lâu im lặng:
- Tôi và ba bạn ở đây đã tống cổ Nguyễn Đồng Triệu ra khỏi Sen Đỏ. Con cá mập, con bạch tuộc ấy đã ngoạm dần Sen Đỏ. Chúng tôi không gỡ được số vốn bị ngoạm, nhưng cũng đủ trí và lực để tống cổ nó. Đừng hòng biến tôi và các bạn ở đây thành lũ sâu xanh bị chích nọc tê liệt trong tò vò của lão Nguyễn Hà Đông, bố nó! Chúng tôi muốn sống. Hãy cho chúng tôi được sống với. Sen Đỏ chỉ là cái ria thôi mà! Còn với Thương Hoài, chúng tôi không nghĩ cô là Triệu. Chúng tôi không phải mù để không biết Thương Hoài rất tốt bụng, hoàn toàn trong sáng với bạn bè ở đây - Thắp chừng đã hả giận, anh cười nhạt - Nhưng xin cảm ơn lòng tốt. Sen Đỏ không có gì để thế chấp ở ngân hàng, cũng không vay vàng dơ bẩn! Thử hỏi, làm gì Thương Hoài có từng ấy vàng? Cô tốt nghiệp đại học, đi làm sau tôi cơ mà! Cách đây hai mươi hai năm, ông Ngà vào Sài Gòn với cái ba lô và đôi dép cao su thôi mà! - Thắp trút hết bao cay đắng, hằn học vào lời nói thô bạo.
Những tiếng can ngăn rộ lên. Thương Hoài - Đào Hải giận tím mặt. Hãng sững điếng, không ngờ Thắp nói vỗ mặt như vậy.
- Đúng là dở hơi! Điên, gàn dở! - Thương Hoài chỉ chống chế, đứng dậy ra về - Tôi đã bảo, tiền của ngân hàng. Anh điếc sao? Nghe bằng hai lỗ tai hằn học, căm hận, chả hiểu đầu đuôi gì cả! Đừng giận cá chém thớt! Bố tôi làm nhục và đuổi các anh, ép các anh, tôi vô can!
Đào Hải cười sặc sụa, nói như rít lên:
- Lòng tốt ngu muội của đàn bà, con nít, và sự sạch sẽ của những thằng khùng! Tại sao tôi lại sa vào cái trò vớ vẩn này nhỉ!
Đào Hải hầm hầm bước ra xe, chỗ Thương Hoài đang đợi. Cả hai không ngờ Thắp lại choảng một đòn đau đến thế.
Đau đến tỉnh người. Hai tháng rồi, lúc này, ngồi đợi bố về, Thương Hoài vẫn còn ngơ ngác. Tất cả đã xảy ra như một vở rối, một màn tuồng của các nhân vật trẻ tuổi, được sinh ra từ sách vở và đời thật. Sách vở quá đẹp, đời thật còn quá bẩn. Sự hôn phối của hai cực sinh ra họ. Đạo đức học bao giờ chẳng đẹp. Đời thực vẫn còn, vẫn còn quá nhiều tanh tưởi máu và bùn. Có phải thế không? Thương Hoài mơ hồ chất sinh viên lẫn chất đời ở họ là đúng.
Hai tháng rồi, cô lai tỉnh, quyết thuyết phục bố. Cô nghĩ, đừng để quá muộn. Đã có vài vụ án được xét xử công khai, đăng báo công khai từng chi tiết. Vài bị cáo đã bị tử hình thật đích đáng. Họ có những hành vi không khác ông Vũ Hồng Ngà là mấy. Cô không muốn bố bị xử bắn. Cô biết, không cản được bố, chắc chắn bố sẽ bị xét xử, và cái chết tử hình, sẽ không tránh khỏi.
Những quan hệ bạn bè dậy lên nỗi cay đắng. Sự bùng phát phẫn nộ, dù là giận cá chém thớt vô lí đi nữa, cộng với hồi chuông cảnh báo của tòa án, của báo chí, cộng với niềm đau từ một số đơn nặc danh chỉ đích danh ông Vũ Hồng Ngà, cô đang nắm giữ, buộc Thương Hoài phải thuyết phục bố, để cứu bố và cũng để cứu cán cân Công lí ít nhiều đang còn bị khuất trong thoáng bóng tối nào đó của tòa án. Không thể không có pháp luật, công lí lẫn công luận. Nếu ai cũng như các tử tội đã bị xử bắn vừa rồi, ai cũng như bố, không người dân nào còn sống nổi, cả đất nước sẽ bị lệ thuộc như một con sâu xanh trong tổ tò vò là quả đất - thảm trạng do những lũ giặc kinh tế nội địa tại các nước nghèo, mà trên chúng, đằng sau chúng là vài đế quốc siêu cường. Cô chua xót nghĩ ngợi.
Thương Hoài nhìn đồng hồ. Đã năm giờ. Mẹ đang cùng cô bé giúp việc nấu cơm. Bố đi đâu sau giờ làm việc?
Khoảng nửa giờ sau, ông Ngà về. Bà Hồng Ngọc từ nhà sau, nghe tiếng xe, đi nhanh ra đón ông.
- Thương Hoài nó đợi ông gần một tiếng đồng hồ rồi đấy - bà Hồng Ngọc vừa bực mình, vừa lo âu - Tôi cũng phải tránh nó...
- Đào Hải có ở đó không? Ông bóp chết cả cặp bây giờ! Con cái phản phúc, mất dạy! - ông Ngà cười nhạt.
Bước vào nhà, ông ném cặp da xuống nệm xa lông:
- Có việc gì mà đợi thế! Truy bức, ức hiếp bố mẹ ư!?
Thương Hoài đứng dậy, rồi ngồi xuống:
- Bố mẹ cứ bình tĩnh.
Ông Ngà ngồi xuống cùng lúc với bà Hồng Ngọc:
- Bình tĩnh? Cô dạy khôn bố mẹ cô sao?!
- Không còn lối thoát nào đâu. Con đã nói với bố mẹ hàng chục lần rồi - Thương Hoài vừa van vỉ, vừa cứng cỏi.
- Thoát cái gì! Ai làm được gì nhà này? Trứng đòi khôn hơn vịt! Mấy thằng lỏi con mới bị "dựa cọc", ăn đạn. Bố của cô không ai làm được gì đâu. Mọi cái đều có chứng từ. Cả mấy căn nhà đều là hàng hóa mua đi bán lại, lãi đẻ lãi, nhờ sự vọt giá nhà. Sợ cái quái gì - ông Ngà cười khẩy.
- Bố nên nghĩ lại mấy cái đơn nặc danh!
- Đã lấp hết rồi. Mèo đi ỉa còn biết giấu cứt, lẽ nào sói đầu vì công tác mà bố của cô còn ngu sao. Sao cứ quấy bố thế? Cô cứ im mồm, đừng bươi ra là được.
- Nhưng người ta vẫn tính toán được. Người ta sẽ thấy không có lãi nào như thế. Và cái gì chứ cái nghề xây dựng, người ta có thể sờ tận tay tội ác được. Vàng non, vàng già, máy điện tử vẫn đo lường được, nữa là gạch, bê tông. Cái hiển hiện, chứ không phải các thứ phủi tay là xong!
- Thây kệ nó - ông Ngà cười - Đã có kẻ chết thay bố của cô! - giọng ông Ngà đã hơi nhỏ lại, cái cười đã gượng.
- Bố ạ, bố nên tự thú đi là hơn. Đó là lối thoát. Đơn nặc danh vẫn có giá trị bố ạ. Người ta đang điều tra theo đơn, và sẽ lòi ra các vụ chưa kê trong đơn. Nếu sống trong sáng, sợ gì đơn nặc danh và điều tra. Đằng này, con biết bố sẽ không thoát nhà đá được đâu. Con nói, để rồi, bố vào tù, bố đừng trách con không cho bố biết các lá đơn nặc danh đó! - Thương Hoài nuốt nước bọt, cay đắng.
- Viết tay hay đánh máy? - ông Ngà hơi chột dạ - Ai viết? Huỳnh? Hoài Nhớ ? Lãng? hay Hãng và Thắp?... - ông Ngà hơi bối rối, thấy kẻ bị ông hại còn quá nhiều.
- Hãng và Thắp chẳng thèm nặc danh, dẫu viết đơn nặc danh vẫn chính đáng. Đó là một quyền của công dân.
- Vậy thì... - ông Ngà nhớ không xuể những cái tên bị ông vấy bùn và máu - Lão Tuyển bí thư chi bộ ư?
- Bây giờ bố còn hỏi thế! Nếu người ta không viết, con cũng viết đơn nặc danh để tố cáo bố. Con sẽ hiếu với dân, chứ không phải với bố - Thương Hoài buột ra một phát đạn cuối cùng từ lương tâm mình - Bố cũng là một thứ ngụy, tay sai đế quốc và tư sản thôi. Bố con mình, từ phút này, đã là đối phương của nhau. Xin bố rõ. Biết bao nhiêu người gặp bi kịch bởi có người lãnh đạo như bố. Bố cũng chẳng khác gì lão Nguyễn Hà Đông, thằng Nguyễn Đồng Triệu. Chính bố, công ti của bố, cùng cha con lão Nguyễn Hà Đông đã biện minh cho sự lấn lướt của tư sản nước ngoài và việc hàng hóa họ tràn ngập cả thị trường. Sự chết dở của cơ sở thiết kế - cung cấp vật liệu xây dựng Sen Đỏ cũng do sự câu kết thủ lợi này. Bố và cha con lão Nguyễn Hà Đông đã mại bản, khiến các công ti, xí nghiệp quốc doanh chân chính phải điêu đứng, các nhà tư sản dân tộc có tâm huyết phải phá sản, hoặc èo uột, công nhân và nông dân bị chèn ép. Bố phải tự thú, trả lại của cải bất chính cho các nạn nhân của bố, cho Nhà nước.
- Con đừng bài bản, nói kiểu tuyên huấn với bố nữa, Thương Hoài ạ - bà Hồng Ngọc đỡ lời cho chồng - Giữa cơn lốc thị trường, ai cũng bị cuốn đi. Không làm như bố, sẽ không tồn tại được. Người ta sẽ xô ngã bố, bứng bố đi, ném bố vào đầm lầy hôi thối - bà nghẹn ngào, tái xanh.
Ông Vũ Hồng Ngà im lặng, mỏi mệt. Mấy tháng rồi, ông cũng lo âu, căng thẳng theo dõi các vụ án kinh tế, lại nhức đầu với con gái. Ông hiểu Thương Hoài cũng lo sợ, ít nhiều cũng thương bố mẹ, muốn tìm lối thoát cho ông. Có điều, tội ác này muốn bịt kín, lại phải bằng tội ác khác. Tội ác đẻ ra tội ác. Cả một dây chuyền tội ác. Bao người oan khuất, ngậm đắng nuốt cay vì ông! Ông thở dài, rùng mình nghĩ đến ngày quả báo nhãn tiền ở nhà tù, tòa án và pháp trường. Quy luật tồn tại khốc liệt thật. Cạnh tranh. Thủ đoạn. Sự quả báo nhãn tiền theo quy luật nhân qủa hiện thực cũng ghê rợn. "Gieo gió gặt bão"! Đến cô Tấm mà cũng dội nước sôi, làm mắm em gái mình là Cám! Chả có Đức Phật, Thượng đế nào điều khiển sự trả thù khủng khiếp ấy. Sự lạnh lùng, nghiêm khắc của luật nhân quả! Thương Hoài sẽ tố cáo ông? Vợ ông rồi cũng thế sao? Tận trong thâm tâm họ vẫn tố cáo ông, ghê sợ ông, dù có thể vẫn còn đồng lõa với ông. Thương Hoài định viết đơn nặc danh để tố cáo ông ư? Nó đã khác với nó trước đây rồi! Ông rùng mình nghĩ đến những viên đạn ở pháp trường sẽ được ai đó bắn thay bao cô Tấm nạn nhân của chính ông.
- Xử tử thằng Ngà bất công này, chỉ rước thằng Nguyễn Hà Đông bất công tàn bạo kia thôi - ông buột miệng, ngỡ như nói một mình, ngỡ như nói ở cột tử hình tại trường xử bắn.
Thương Hoài giật mình. Bà Hồng Ngọc lo lắng nhìn ông, cảm thấy vẻ bất thường ở chồng. Trong một thoáng, bà hoảng hốt thấy bằng khen, bằng huy chương, bằng gia đình vẻ vang của nội, ngoại Thương Hoài từ vách tường bay đến, tát vào mặt vợ chồng bà. Suýt rú lên, nhưng vẫn còn nhận biết đó là ảo ảnh, bà cố định thần. Bà nói trong tiếng thở hắt:
- Thôi. Con về đi, Thương Hoài ạ. Có lẽ bố mệt.
Ông Vũ Hồng Ngà ngả hẳn đầu lên lưng ghế, ngẩng mặt nhìn trần nhà. Chùm đèn trần lóng lánh thủy tinh đắt tiền cơ hồ sắp rơi xuống giập nát mặt ông. Ông vẫn ngẩng mặt cười mê dại. Ông cười, nghĩ con gái dạo này sao lí sự thế. Ông vừa buồn cười, vừa thương con. Ông nói, chậm rãi, buồn rầu :
- Bấy giờ con giết chết bố cũng đáng đời bố mà. Bởi bố đã tiêm nhiễm mùi tanh tưởi bùn và máu cho con thời bé nhỏ đến giờ... Lấy máu của bố rồi nước mắt của mẹ mà gột rửa, Thương Hoài ạ.
- Thôi! Ông nói gì kinh sợ thế! - bà Hồng Ngọc và cả Thương Hoài bỗng kinh hoảng.
- Không! Không! Chỉ có tự thú thôi, là nhẹ bớt tội. Không còn cách nào đâu, bố ơi!
- Con bé này! - bà Hồng Ngọc gắt - Đã có gì đâu mà rối lên thế. Tẩu tán tài sản rồi xin về hưu là xong. Tự thú cái gì!
Thương Hoài không phải không nghĩ đến điều đó. Nhưng công an đã điều tra, họ đã nắm rõ. Tang chứng trong ngành xây dựng không giấu được. Nhân chứng vẫn còn đó, họ sẽ mở khóa trên miệng họ để tố cáo. Cô nhớ đến Hãng, nhớ đến Thắp, Hoài Nhớ, tên Gion, tên Thủy, lão Hà Đông, Nguyễn Đồng Triệu và bao nhiêu kẻ tay chân khác. Nạn nhân, lũ chủ mưu, bọn đồng lõa còn đó. Đúng rồi, phải tố cáo những tư sản nước ngoài và nội địa nữa. Thương Hoài nghiến chặt hai hàm răng. Cô biết mình phải chiến đấu. Phải hiếu với dân, phải nghĩa với dân, phải trung với nước. Không thể "đời là thế" ở chuyện này được! Những kẻ gian ác không thể chạy tội!
Cô quắc mắt nhìn bố. Thương Hoài nghĩ bố đang đóng vai kịch ra vẻ ân hận. Cô không thể tin bố được. Bao giờ bố tự thú trước cơ quan pháp luật, chịu bị thu hồi tài sản thật sự, cô mới tin, mọi người mới lấy lại được niềm tin vào công lí, tình yêu cuộc sống trần gian này, tình yêu và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng. Không thể đánh đổ bất công cũ để chịu đựng bất công này, đánh đổ bất công này để chịu đựng lại bất công cũ! Không, không phải ai cũng như bố đâu, bố ạ - Thương Hoài muốn hét lên - Những người trẻ phải dự vào công việc quản lí Nhà nước, để cùng những cán bộ đứng tuổi, hồng thắm, chuyên sâu, đầy kinh nghiệm và giữ được sự liêm khiết, góp phần làm trong sạch guồng máy quyền lực ấy! Không ai phải gặp bi kịch vì sự hám của, hám tiền, thói quan liêu và ngu dốt nữa. Không ai phải gặp bi kịch bởi kẻ lãnh đạo cơ quan bán mình cho đế quốc nữa. Và Hãng ơi, Thắp ơi, Tre Trúc ơi... tôi vẫn tin vào lòng tốt, vào tình người cho dẫu ngộ nhận nhau đến thế nào! Những ngộ nhận sẽ sáng tỏ, còn lòng tốt, tình người, tình bạn mãi ấm lòng người, cứu rỗi trái tim người! - Vũ Thương Hoài úp mặt vào hai bàn tay. Cô cũng biết những lạng vàng bố mẹ cho, cô tự kiếm được, từ lâu là các ổ khóa bấm vào hai bờ môi của cô để "khóa miệng" chính cô! Nhưng không thể cam chịu mãi được! Thương Hoài vẫn tin vào sức mạnh công lí và chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội không phải thoát thai từ óc chuyên chế phong kiến, từ ý thức của nếp nghĩ hoặc quá lỗi thời hoặc quá vong thân, tha hóa, sùng ngoại của một số cán bộ địa phương, một chủ nghĩa xã hội tỏa ánh sáng công lí cho mỗi công dân và từ mỗi công dân, với độc lập, tự do, dân chủ cho mỗi nhân phận, mỗi dân tộc (của nhiều nhân tộc)... Thương Hoài bật khóc trước bố mình, khóc nức nở.
- Giá như cả nhà này đều là thầy tu khổ hạnh, hoặc đồng lương không phải ba cọc ba đồng chết đói, có thêm chút tiền bảo liêm để giữ liêm sỉ giữa thời buổi kích thích tiêu dùng và xa hoa này! - bà Hồng Ngọc vừa than vãn vừa phân trần - Không thể với đồng lương ấy mà thanh liêm được!
- Nói thẳng là lòng tham không đáy đi bà ạ! - ông Vũ Hồng Ngà cười sằng sặc một cách điên dại.
Không thể nhầm được, cả bà Hồng Ngọc lẫn Vũ Thương Hoài đều thấy và nghe ông Ngà đang cười sằng sặc, bỗng cười như tiếng chó sói tru lên, thật kinh sợ. Có lẽ ý niệm nghiệp trong vô thức bỗng trỗi dậy, buộc ông phải trả nợ suốt bao năm tháng nay ông đã vay - nợ mồ hôi, nước mắt, nợ nỗi đau nhân phẩm! Yằ niệm nghiệp và nhân quả của Phật giáo hai nghìn năm hơn vẫn chảy trong vô thức dân tộc, chính ông Ngà cũng không rõ.
Ông Ngà đạp, gí, ngỡ giun đất dưới chân, và tru lên như con sói thật, rồi ngã qụy. Ông cũng ngỡ mình là nai bị sói ăn thịt, là giun bị chính vợ con giày xéo. Bà Hồng Ngọc, Thương Hoài, nước mắt trên mặt đầm đìa, sửng sốt nhìn ông, rồi cùng bổ tới đỡ ông dậy. Thật ra ông Ngà chưa ngất đi, chỉ quá căng thẳng, mệt mỏi, và ý tưởng buông xuôi, phủi nợ gần đây nẩy ra trong ông, khiến ông muốn yên nghỉ. Ông nằm dài trên ghế, nói thều thào như trong ác mộng với giọng hoang dã:
- Tôi là cá mập, là bạch tuộc xuyên quốc gia, là chó sói liên lục địa. Tôi là Nguyễn Hà Đông cáo già, là Nguyễn Đồng Triệu cáo trẻ. Tôi bị thằng Gion, con Thủy Lê Thị chích vào tim một loại máu có tên là "Diễn biến hòa bình", tôi đã biến hình. Ơi Hãng, ơi Thắp... ơi bao người thợ... hãy tha cho tôi, cho dù tôi phải bị tử hình... Hãy tha nợ cho tôi... Tôi cũng chẳng muốn hóa kiếp thành nai, thành giun... Kiếp sau, xin cho tôi lại làm người, con người chân chính - ông níu vào quan niệm siêu hình.
- Còn dục vọng tham lam bẩm sinh trong bố nữa, bố ơi! Tư hữu, lòng tham không đáy là thằng giặc tư bản chủ nghĩa trong tim bố! Dục vọng ấy cộng với loại máu chó sói, máu cá mập, máu bạch tuộc, máu cáo già! Bố cũng cơ hội như các cán bộ ở Liên Xô, ở Đông Âu đấy thôi... - Thương Hoài nói như mê sảng.
- Có "máy huyền vi mở đóng khôn lường" (21) điều khiển không nhỉ? - bà Hồng Ngọc lẩm bẩm trong cơn cảm ứng bởi không khí thảng thốt giữa ba người - Có loại máy điện tử ấy không? Nhân loại thành người máy rô bốt (robot) từ năm nào? "Máy huyền vi" ấy vốn có từ vô thủy đến vô chung của vũ trụ ư? Từ khi sinh vật và rồi nhân loại hình thành đến nay, mọi sinh linh đã bị thế, và rồi vẫn bị thế? Mọi sinh linh nhai xương, xé thịt nhau bằng cách này hay cách khác mãi sao? Thượng đế độc ác đến vậy sao?! - bà mê tín lẩm nhẩm trong miệng.
Bà Hồng Ngọc chưa kịp thấm hiểu luật nhân quả duy vật sâu xa hơn. Bao người đã bị ô nhiễm do sự thối nát trong từng ý nghĩ thâm độc, trong từng hành vi, thủ đoạn mờ ám của ông Ngà. Sự thối nát ấy đã tạo nên nghiệp chướng cho vô thức cộng đồng, từ gia đình đến xã hội! Chính Thương Hoài phải vật vã, giằng xé để gột rửa sự ô nhiễm ăn sâu vào máu thịt bản thân, và nhờ vậy, nghiệp chướng lại sẽ làm sáng tỏ hơn, có thể đến mức chói sáng, Phật tánh trong tâm thức cô...
Thương Hoài thoảng nghe đâu đây hương ngôn từ nhà Phật từ Sen Đỏ...



1999



33




Thắp một nén nhang, hai tay hơi run run, ông Hương Chữ cúi đầu vái chào trước bài vị và ảnh chân dung người bạn già đã truyền dạy cho ông đàn, sáo, dẫn dắt ông vào cuộc cách mạng, kháng chiến chống Pháp. Hãng là cháu đích tôn của ông Phùng Xứ, đứng bên cạnh vợ, vái trả. Trong áo quần tang trắng, đội mũ mấn trắng, Tre Trúc bồng Cây Bàng. Cây Bàng tuy mặc áo quần đại tang của đứa chắt đích tôn, vẫn hồn nhiên níu những sợi vải xé xơ trên tay áo của ông nội - ông Phùng Thứ. Những tiếng nhạc lễ cổ truyền và cách tân cất lên những giai điệu buồn, thanh thản, siêu thoát.
Lễ phúng điếu được diễn ra trong ba ngày. Suốt cả ba ngày nay ông Hương Chữ túc trực bên áo quan bạn già. Ông cảm thấy mừng cho bạn đã mất đi trong bao niềm luyến tiếc, kính nhớ. Ông chợt tiên cảm đến một ngày chưa đến của đời mình, và ước chi mình cũng được tiễn đưa về lòng đất trong các nghi thức trang nghiêm, nhẹ nhàng, không phải phiền toái bởi mùi rượu thịt hay các cỗ chay. Ngày xưa, ít hàng quán, đón khách tiễn phương xa, khác tỉnh, khác huyện, phải dọn cỗ, khiến lễ vĩnh biệt giảm mất nhiều ý nghĩa, cảm xúc thiêng liêng và cơ chừng gây cảm giác bớt đậm tình. Ông Hương Chữ ngẫm nghĩ, tay xếp lại trước ngực, tì lên mặt bàn có đĩa cau trầu chỉ để tượng trưng kề khay chén trà, tay chống vào một bên mặt, ngón chạm vào khăn tang xin chít để tưởng tiếc bạn, thay vì đội khăn đóng. Trong bộ quốc phục, áo lụa gấm xanh đậm, quần trắng, ông Hương Chữ chờ lễ động quan. Lần chào với nén hương vừa rồi là lần chào thứ hai của riêng ông với người bạn đã mất.
Sau lễ động quan, ông lên xe cùng gia quyến bạn già, ngay sau xe linh cữu. Những áo quần tang trắng, mũ rơm, mũ mấn, gậy tre của con trưởng, cháu đích tôn, mùi hương trầm thoang thoảng và tiếng khóc thút thít chung quanh, khiến ông lẫn bà Lụa Hà cũng không cầm được nước mắt. Ông hiểu tang phải đi đôi với khó. Khó là chịu khổ hạnh. Không áo tang nào không để vải xơ như bung chỉ và bạ mảnh vá ở lưng, ở bả tay. Ông òa khóc khi nhớ ra ý nghĩa. Cha mẹ, ông bà địu con, địu cháu đến rách mòn cả áo! Các mảnh vá xé xơ sợi vải kia ở áo tang nhắc lại công ơn sinh dưỡng! Đi chân không, vận quần áo "rách", đội mũ rơm, mũ mấn lại còn như một lời nguyện cam chịu khổ hạnh trong thời hạn tang chế, để tâm hồn trong sạch lúc tưởng niệm. Chiếc gậy tre ở con trưởng, ở cháu đích tôn, với bước chân thụt lùi nhưng đi tới, nhắc lại tuổi già người mất với ước nguyện nối dõi, truyền đời, nhắc ngưới sống đừng quên ngoảnh về cội rễ huyết thống, cũng khiến ông Hương Chữ trào nước mắt, thương và mừng cho bạn, thương và buồn cho mình. Ông cũng mừng không phải nghe các tiếng nhạc Tây, Tàu nào cả, cũng không thấy đội âm công ăn vận kiểu hiện đại. Nón dấu, áo lính lệ với xà cạp gợi lên nét cổ truyền nghìn xưa. Đội âm công bảo thọ đang ngồi nghiêm trang hai bên hông linh cữu ở xe phía trước mắt ông. Ông ngỡ đang cùng người bạn già trong áo quan đi về một lễ hội nối mạch với thời Hùng Vương, Lý, Trần...thăm thẳm. Ừ nhỉ, ông cúi đầu ngẫm nghĩ, chết là về, về với cội nguồn, về với lòng Mẹ Đất.
Ông thầy cúng của các làng thôn nghìn xưa đang vận quốc phục, dải vải điều quanh thắt lưng, buông múi về một bên hông, hai tay cầm hai thanh gỗ đen bóng, gõ vào nhau, điều động đội âm công hạ linh cữu xuống huyệt. Những tiếng khóc vang lên trong tiếng nhạc lễ u trầm, thanh thản và siêu thoát.
Nắm trong tay một hòn đất, ông Hương Chữ nghẹn ngào bóp tơi ra, rắc lên áo quan bạn già. Ông bật khóc. Bà Lụa Hà đứng cạnh ông, rưng rức khóc, tay cầm một cây nhang đưa tiễn, tay xếp trên ngực. Họ sững sờ nhìn đất lấp dần đầy huyệt, rồi vun cao một vồng đất. Không phải một nấm tròn cổ truyền, nhóm âm công úp lên một khối chữ nhật đã được đúc sẵn để bán cho các tang gia. Thêm một ngôi mộ giữa bao nhiêu là lăng mộ ở nghĩa trang này!
Ông thầy cúng đọc điếu văn. Bài văn tế với kết cấu cổ xưa nhưng hình như không gieo vần, không đối câu đối vế, nhắc lại những năm kháng chiến, những năm cơ cực thời bị tố cộng, cưỡng bức li khai, những năm mới giải phóng, thống nhất, bị đồng chí cũ dè bĩu, nghi ngại, gợi lại cả một cuộc đời hào hùng và đầy bi kịch của ông Phùng Xứ, khiến những tiếng khóc quanh mộ đôi khi át cả giọng ông thầy cúng - người gìn giữ, hướng dẫn các nghi lễ cổ truyền đã cách tân. Ông Hương Chữ cũng đôi lần bật khóc trước bài văn kể lại cuộc đời gần tám mươi năm của bạn.
Rút bản điếu văn phụ ra, cất bản chính, ông thầy cúng nhờ ông Phùng Thứ cầm, Hãng châm lửa. Ngọn lửa cháy dần. Ông Phùng Thứ ngồi sụp xuống, đặt trước mộ, cố ý không để còn sót mẩu giấy nào. Ông bật khóc nức nở.
Cùng bà Lụa Hà và các sinh viên trọ học dự lễ tang xong, ông Hương Chữ ngậm ngùi cùng họ về Sen Trắng. Mới đó, cũng đã qua lễ mở cửa mả, gần đến lễ bốn mươi chín ngày.
Hơn một tháng nay, ông Hương Chữ hơn bao giờ hết, cứ ngẫm nghĩ mãi về lẽ tử sinh. Sự sống bắt đầu từ đâu? Sống bằng cách nào? Sống ở đâu? Sống như thế nào? Sống để làm gì? Lí tưởng sống và lẽ sống? Sống cho ai? Sống với ai? Và cái chết! Tại sao chết? Chết cho ai? Chết như thế nào, chôn cất ra sao? Giá trị và ý nghĩa cái chết? Có kiếp sau không? Luân hồi? Đầu thai? Linh hồn có bất tử? Có xã hội linh hồn không? Chỉ còn sóng sinh điện thôi sao? Những câu hỏi đâu phải lần đầu tiên đặt ra, vẫn trở đi, trở về trong tâm tưởng của ông Hương Chữ. Ông mở cuốn sách của Tre Trúc : "Những nhu cầu cơ bản của con người và bản lĩnh văn hóa Việt Nam''. Bốn chữ "sự sống" và "cái chết" ở hai chương sách của cô được in nét đậm, sắc sảo. Đó cũng là hai vấn đề được Tre Trúc cố ý nhấn đậm với các kiến giải sắc sảo. Rất duy vật trong cách hiểu riêng, "cát bụi lại trở về với cát bụi", khởi từ Mẹ Đất và cuối cùng trở về cùng Mẹ Đất... Ông nhớ mãi câu đối Tre Trúc chép được ở một nhà thờ họ tộc tại Quảng Trị vào năm cô mới tám tuổi:
tổ tiên còn mãi trong con cháu
lăng miếu hoài lưa (lưu) giữa đất trời (22)
.
Ông vẫn thích vế thứ nhất hơn. Đúng là huyết thống và sự nghiệp của tổ tiên còn mãi trong con cháu. Nhưng con dòng chính đã chết ở Khâm Thiên, con dòng thứ cũng phiêu bạt nơi đâu ông không rõ. Đổi mới rồi, cũng chẳng ai tìm đến ông. Ở góc bể chân trời nào cũng dò la mà tìm về chứ! Ông cười buồn. Lăng miếu mà chi! Với người khác, chỉ một nấm mộ là đủ, rồi nấm mộ ấy cũng phôi pha theo mươi đời con cháu, nhưng vẫn còn vĩnh cửu hương hồn ở nhà thờ họ tộc. Còn vua chúa khắp quả đất này xưa nay vẫn khát vọng bất tử, muốn lăng miếu trường tồn, trường sinh thay họ! Linh hồn ư? Đạo nào cũng day dứt về linh hồn và kiếp sau, sao Đạo Lão vẫn tìm thuốc, luyện đan bất tử? Trần gian không là cõi tạm ư? Hay vẫn thấy cuộc sống tu tiên ở đời là đẹp hơn cả cõi tiên?
Đạo Hiếu Nghĩa Việt Nam tin có xã hội linh hồn, nhưng âm dương cách biệt, sự cứu giúp, độ trì cũng là giữa linh hồn người chết với kẻ đang sống, chả có phép mầu nào như của thần linh. Đó là sự phù hộ của mẹ cho con, ông cho cháu như người-phàm-chết phù hộ người-phàm-sống! Có thể chỉ là khát vọng đáng thương của con người về sự phù hộ, độ trì ở cõi dương, là ảo vọng công lí và lẽ phải được thực hiện ở xã hội linh hồn. Xã hội ấy là bản sao và sự nối tiếp của xã hội người sống... Linh hồn là gì nhỉ? Lao động đã sáng tạo từ con vượn-người thành con người. Lao động cũng sáng tạo nên linh hồn của con người, mặc dù không hề có Thượng đế theo niềm tin siêu hình của tôn giáo, của tín ngưỡng... Sao lại "sống về mồ về mả, ai sống về cả (lớn) bát cơm" đến thế ! Ông vẫn tâm đắc với tục ngữ cha ông: "Hổ chết để da, người ta chết để tiếng". Tiếng thơm! Và tiếng thơm trong ca dao:
có xáo thì xáo nước trong
đừng xáo nước đục đau lòng cò con!

Cái chết thơm danh! Sống cho con cháu, chết cũng nghĩ đến con cháu, không muốn con cháu đau lòng, tủi nhục bởi cái sống, cái chết bỉ mặt của mình! Nhưng còn xóm làng, quê hương, Tổ quốc, còn dòng họ, đồng bào, dân tộc, còn nhân loại, trái đất, vũ trụ nữa. Con người như mảy bụi chứa vạn nghìn năm và mênh mông không gian. Tất cả những gì thoáng qua mắt, qua tai đều còn đọng lại trong mảy-bụi-con-người. Mỗi một người hiện hữu hôm nay là sự kết tinh, tiếp nối của vạn năm trước. Ông ngẫm nghĩ, tự hỏi mình đã sống hết mình chưa, nhận nhiều nhưng đã cống hiến bao nhiêu, và dọn chết thế nào đây. Ông đã nghĩ, còn đang nghĩ. Di chúc! Ông đã chuẩn bị di chúc. Ông suýt bật cười nhớ câu nói cửa miệng của thầy giáo trẻ Mai Tự, "để làm gì nhỉ!". Ông cũng buồn cười cho các vua chúa chỉ sống với cái chết, sống cho cái chết, không sống cho sự sống, cuộc sống chung quanh! Cả nửa đời người chỉ lo lăng miếu và sống ở lăng miếu của chính mình.Cái mồ lại gọi là sinh phần! Ồ, thôi, Tre Trúc đã bàn luận nhiều rồi. Điều tâm đắc của ông Hương Chữ vẫn là Đạo Hiếu Nghĩa với ý niệm xã hội linh hồn, để quãng đời ngắn ngủi, nhiều kiếp người vô nghĩa lí không rợn lạnh hư vô. Còn ông, ông không còn con cháu, cũng chẳng cần chuẩn bị trước chiếc áo quan và sinh phần, cũng không theo triết học nhà Phật về sự luân hồi, đầu thai siêu hình với ý niệm nghiệp, không theo nhà Chúa mong ngày phán xử cuối cùng, cũng không mơ cõi tiên của nhà Lão. Ông đã biết sống và sẽ biết chết. Cái chết, giới hạn cuối cùng của kiếp sống, có giá trị và ý nghĩa nhắc nhở cho lẽ sống ở đời. Trong ông có chút nhà Nho, "kính nhưng xa lánh quỷ thần", "bàn luận lẽ sống chưa xong còn nói gì cái chết" (23) chăng? Cũng nghĩ cho thấu lẽ tử sinh chứ! Ông tin vào sự luân hồi vật chất. Ông Hương Chữ sẽ là bụi đất, sẽ là phân tử nào của quả đu đủ, của ngọn cỏ, của hài nhi chưa sinh? Những suy nghĩ ông sẽ được tiếp nhận, khúc xạ, chuyển hóa thế nào ở bao người sống, làm việc, chuyện trò với ông, ở gia đình anh Cơ Dân, gia đình Hãng, ở các sinh viên đồng hương trọ học? Không có gì mất đi và hư vô. Ông mỉm cười. Sóng âm thanh, sóng sinh điện từ não hay linh hồn bất tử, gọi thế nào, định nghĩa bản chất thế nào cũng được. Duy vật, vô thần với duy tâm, hữu thần (linh hồn) sẽ gặp nhau trước bàn thờ tổ tiên và nhân loại của Đạo Hiếu Nghĩa. Ông Hương Chữ nghĩ, Tre Trúc, xem xinh đẹp, quá trẻ thế, nhưng cũng tìm ra được cách kiến giải cho băn khoăn, thao thức tâm linh đấy chứ. Còn muốn truyền ra khắp thế giới kia! Sách đã được dịch ra và xuất bản ở Mỹ, ở Uằc, cả ở Hàn Quốc! Ông Hương Chữ nhấp một ngụm trà nguội, lại mỉm cười... Tre Trúc đã đề xuất trên cơ sở truyền thống: bàn thờ tổ tiên ở gia đình; đình làng; và Đền thờ Tổ quốc, Đền thờ Nhân loại không phải ở sông Bến Hải mà ngay trên đỉnh đèo Hải Vân (ở tâm điểm của dải đất hình chữ S, nơi cách đều bốn vùng dân cư ruột thịt với bốn giọng nói khá khác nhau của ba miền đất nước) như bàn thờ của cái nhà bốn căn mà hai căn giữa gộp thành căn chủ. Đấy là đề xuất riêng đối với nước mình. Mỗi nước lại cũng tùy đặc điểm cụ thể. Xem ra cũng hay!... Phật giáo qua Lí Thánh Tông, Nho giáo qua Chu Văn An, Lão giáo qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, chủ nghĩa tư bản với tư tưởng dân quyền qua Nguyễn Thái Học, chủ nghĩa Mác - Lê-nin qua Hồ Chí Minh (24) đã cùng với Đạo Hiếu Nghĩa truyền thống được cách tân, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bất diệt, tạo nên một nguồn mạch tổng hòa. Cũng hay!... Ngoại trừ những yếu tố tiêu cực, tư tưởng thất bại chủ nghĩa, hoài vọng vào Nước Chúa siêu hình, dẫn đến sự lợi dụng của đế quốc La Mã, sự mất nước của Do Thái, và cũng ngoại trừ sự câu kết giữa giáo hội La Mã với chủ nghĩa thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, sự mất nước của Việt Nam ta, thì Thiên Chúa giáo với những yếu tố tích cực, xã hội chủ nghĩa, đã trở thành một trong nhiều ngọn nguồn của chủ nghĩa xã hội, và cũng trở thành các thành tố của chủ nghĩa Hồ Chí Minh... Ồ!... Thật ra, những nhân tố xã hội chủ nghĩa cổ đại vốn tiềm tàng ở mọi tôn giáo, mọi nền văn học dân gian, chứ có riêng gì ở Kinh Thánh!
Ông Hương Chữ lại mỉm cười một mình, nhấp thêm một ngụm trà... Ồ, lăng tẩm! Ông lại nghĩ về lăng tẩm! Nghĩ thế, nhưng thật ra, ông vẫn xây dựng, tôn tạo lăng mộ cho ông bà và hai thân sinh, như một cách bày tỏ lòng hiếu nghĩa, mặc dù hai thân sinh ông không muốn, đã dặn dò ông trước khi mất... Ông thấy mình trôi bất định theo dòng tâm tưởng. Bất giác, ông lại nhớ một bài thơ...

TÔI VẪN YÊU TRÁI ĐẤT NAắY

trên đầu là bao la
dưới chân nghe bát ngát
thân tôi muôn bụi cát
vạn hừng đông trăng tà
hồn thiêng hoài khẽ hát
tự cội nguồn mờ xa

cúi đầu ơn mẹ cha
nhắm mắt niệm quê nhà
ôi chấm xanh - quả đất
rưng rưng cùng thiên hà
có có và mất mất
thoáng đọng và tan ra

hư vô sao chất ngất
nhưng nỡ nào im bặt
còn nợ triệu năm qua!
chắp tay vọng chim ca
quỳ lạy từng đóa hoa
hết mình rồi vữa nát.

1993
... Ông Hương Chữ sực nhớ đến tờ di chúc của ông. Ít nữa vợ chồng ông sẽ ra Phòng Công chứng cùng vợ chồng Hãng, vợ chồng anh Cơ Dân với tờ di chúc đó. Biệt thự Sen Trắng sẽ không chia vụn ra nữa. Không xây dựng gì thêm ở đây nữa, chỉ chữa lại cái cổng theo dáng kiểu của gác Khuê Văn ở Văn Miếu Hà Nội. Tòa nhà lớn, cả hai tầng, sẽ trở thành thư viện, chỗ đọc thơ văn, nơi triển lãm tranh tượng cho văn nghệ sĩ cả nước và nước ngoài. Nhà anh Cơ Dân, nhà Hãng vẫn là của Sen Trắng. Họ và con cháu họ mãi mãi về sau có nghĩa vụ quản lí, trùng tu Sen Trắng, cho dù anh Cơ Dân một mực nhắc nhở ông nên giao cho những người cháu họ xa ngoài quê. Không. Đây chỉ là sự ủy nhiệm, có sự giám sát của chính quyền địa phương và luật sư đoàn. Không một ai có quyền thu lợi từ Nhà Văn hóa tư nhân Sen Trắng này, chỉ lấy thu vừa đủ để bù chi. Với phương thức ủy nhiệm này, ông Hương Chữ tránh được nguy cơ bị chiếm đoạt, bị làm phá sản bởi những người cháu họ. Hãng cũng như anh Cơ Dân, phải tuân ý ông chứ! Mặc cảm ở nhờ, tầm gửi ư? Cũng đã sòng phẳng đâu đấy rồi. Thay vì phải trả tiền thuê nhà dài hạn, Hãng và anh Cơ Dân trả bằng công quản gia - quản lí và điều hành Sen Trắng. Ồ, còn số của cải chìm, một phần ông sẽ cho mua sách báo, thiết bị, gửi số lớn còn lại vào luôn ở ngân hàng, trích lãi để sửa chữa, trùng tu, trả phí giám sát cho luật sư đoàn... Ừ nhỉ... Còn việc đóng góp cho nhà thờ tộc họ, đình làng ngoài quê cũng đã lo liệu xong. Ngẫm nghĩ, ông Hương Chữ thấy thật thanh thản, nhẹ nhàng. Biết đâu, với sức khỏe hiện nay, mươi, mười lăm năm sau ông mới ra đi nhẹ nhõm như ông bạn già Phùng Xứ. Có gì đâu mà băn khoăn về con cháu và cái chết! Chết thế là cũng sống với đời. Chỉ buồn một nỗi, đất đai và gạch đá Sen Trắng này cũng chả phải do công sức của chính ông làm ra. Ông chỉ thừa kế! Ông chỉ góp hương sách vở chữ nghĩa để tạo thêm cho Sen Trắng một linh hồn. Ông Hương Chữ tự an ủi, ông đã biết sử dụng của cải thừa kế không đến nỗi vô ích, vô nghĩa. Thế là gọn, xem ra cũng đẹp, đâu có bất hiếu, đâu có bất nghĩa!
Ông đứng dậy, bước qua gian bàn thờ, thắp một nén nhang trước bàn thờ ông bà, hai thân sinh. Với lời tâm niệm và tâm nguyện, lần này ông không rưng rưng nước mắt nữa. Ông mỉm cười, thầm thưa chuyện về tờ di chúc của ông.
Bước ra cửa, tì tay lên bao lớn phía hông trái nhà, ông bâng khuâng nhớ bạn già Phùng Xứ. Thấy ở hành lang nhà Hãng, bà Lụa Hà ngồi cạnh Song Mây, đang chơi đùa với chú bé Cây Bàng, ông đóng cửa, xuống cầu thang, định ghé qua nhà Hãng. Ông muốn trốn chạy những ám ảnh tử sinh trong tâm tư ông. Thằng bé Cây Bàng dễ thương quá chừng quá đỗi ! Ông vừa bước vừa mỉm cười. Ông chợt nhận ra dạo này ông hay mỉm cười như học được ở Đức Phật Thích Ca nụ cười trí huệ, tuy ở biệt thự Sen Trắng chẳng có tượng Phật nào.
- Cây Bàng nói chim đi! Chim! Chim!
- Chym! Chym!

- Cây Bàng nói bướm đi! Bướm! Bướm!
- Bớm! Bớm!

- Ngày xửa ngày xưa, người ta sinh ra đời đâu có ''chim'', đâu có ''bướm''. Người con trai đi, ''chim'' bay theo. Người con gái đi, ''bướm'' bay theo. Thơ mộng đến là là!
Ông Hương Chữ nghe bà Lụa Hà đùa với chú bé Cây Bàng, ông bật cười với ý tưởng rất thần thoại nên thơ đó.
Ngồi giỡn với Cây Bàng một lúc, ông hỏi vợ:
- Sắp đến ngày giỗ ba má Cơ Dân rồi, phải không?
- Đúng rồi! - bà Lụa Hà tính nhẩm trong đầu - Đúng rồi! Mươi ngày nữa.
Song Mây ngồi bên cạnh, buột miệng:
- Ba anh Cơ Dân bị cách mạng "xử lí", mạ anh Cơ Dân buồn quá nên tự sát luôn, phải không ông?
Ông Hương Chữ nhìn Song Mây, thở dài:
- Đúng vậy... Sao cháu biết?
- Giỗ năm ngoái, anh Cơ Dân kể - Song Mây chợt im lặng, rồi lại nói - Anh Cơ Dân bảo, theo giặc Pháp, giặc Nhật, theo giặc Mỹ, nên bị cách mạng xử tử là đáng đời, nhưng cũng buồn. Buồn nhất là mạ anh ấy chỉ thấy tình riêng, không thấy nghĩa chung - Song Mây cố tảng lờ nói sang chuyện khác, nhưng hình như ông Hương Chữ không để ý mấy câu nói tiếp.
- Chiến tranh, buồn thật! Thôi, quên đi. Biết thế rồi quên đi! - ông Hương Chữ lẩm bẩm - Buồn nhỉ! Còn biết bao nhiêu người dân lành vô tội bị chết bởi tên bay đạn lạc, bởi bom của Mỹ, bởi đạn pháo kích và mìn của bộ đội, du kích mình nữa! Nguyên nhân vẫn do chiến tranh xâm lược của bọn Pháp, Nhật, Mỹ cả! Chiến tranh, đau thật!... Rồi Trung Quốc, Khơ-me Đỏ!
Ông chả hiểu vì sao từ ngày đám tang bạn già Phùng Xứ, ông hay nghĩ đến cái chết đến vậy, và bỗng dưng ông nhớ đến ngày giỗ thân sinh của đứa con nuôi - anh Cơ Dân.
Ông Hương Chữ chợt hỏi, như muốn gạt đi chuyện chết:
- Tre Trúc đi đâu rồi?
- Dạ, đi thư viện để tra cứu, thưa ông.
- Giỏi quá nhỉ! - ông nựng Cây Bàng - Má của Cây Bàng giỏi lắm, Cây Bàng à! Nói giỏi đi! Giỏi! Giỏi!
- Dỏi! Dỏi!
- A! Chữ giỏi này Cây Bàng phát âm chuẩn ghê! Quá giỏi!
Quá giỏi nghe cưng! - bà Lụa Hà cười giòn với tiếng cười của hai ông cháu.
Cây Bàng cũng toét miệng cười, rồi vỗ tay đọc:
ru con, con ngủ cho lành
để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
ai coi lên núi mà coi
coi bà Triệu tướng cỡi voi bành vàng...

Thấy ba người lớn đều vỗ ran cả tay tán thưởng nó, Cây Bàng cũng vỗ tay cười như nắc nẻ, tự tán thưởng mình. Hứng chí, Cây Bàng đọc tiếp với giọng điệu trẻ thơ:
em nghe anh đau đầu chửa khá
em băng đồng chỉ sá, bẻ nạm lá về cho anh xông
ăn ở mần ri (:thế này) đây cho trọn đạo vợ chồng
đổ mồ hôi thì em chặm (:thấm), gặp ngọn gió
lồng thì em che
.
Lại tiếng vỗ tay tán thưởng. Song Mây nhắc:
- Gió mùa thu đi!
Cây Bàng cười thích chí, vẫn với giọng chả chớt:
gió mùa thu mẹ ru con ngủ
đêm năm canh chầy, thức đủ vừa năm
.
- Hoan hô cây Bàng! Giỏi quá! Giỏi quá! - ông Hương Chữ nói như reo - Còn truyện "Bó đũa" mẹ dạy thì sao?
Cây Bàng im bặt, ngẫm nghĩ, bối rối. Bà Lụa Hà cười:
- Ông làm như hai tuổi đã kể được chuyện! Này, Cây Bàng, đũa cầm lẻ một chiếc thì sao ?
Cây Bàng lắc hai nắm tay như đang bẻ thật:
- Bẻ gãy liền!
- Cả bó đũa, bẻ có gãy không?
Cây Bàng nhớ cả bó đũa lúc mẹ dạy:
- Bẻ không bao giờ gãy!
- Hoan hô Cây Bàng! Giỏi quá! - ông Hương Chữ kéo Cây Bàng vào lòng, âu yếm.
Thật ra, đó là những bài tập nói. Các bài hát ru, truyện ngụ ngôn dân gian ấy Cây Bàng cũng không hiểu hết. Nó chỉ cảm nhận được thanh âm, vần điệu và hình ảnh bó đũa trực quan. Nhưng nghe hoài, cả lúc đã ngủ ngon, nên Cây Bàng thuộc lòng. Hát ru chỉ để ru ngủ, còn truyện "Bó đũa" là để thử óc nhận xét của Cây Bàng thôi, mặc dù Cây Bàng chưa đủ sức bẻ gãy một chiếc lẻ, hoàn toàn chưa kinh nghiệm được. Dẫu sao, Cây Bàng cũng thích thú và cả nhà đều vui.
Tuy vui, nhưng ông Hương Chữ vẫn chưa dứt được mạch suy tưởng về cái chết đang ám ảnh ông. Ông không nói ra, nhưng không thể không nghĩ đến cái chết bỉ mặt được báo trước của Vũ Hồng Ngà, bố con Nguyễn Hà Đông - cái chết của những kẻ mại bản. Làm sao đoàn kết với họ được nhỉ! Ông bỗng thương và quý Vũ Thương Hoài. Không biết Thương Hoài có thuyết phục được tên Ngà cùng bố con lão Hà Đông tự thú trước khi vỡ lỡ, bị công an cùm tay không? Ông Hương Chữ đùa giỡn với Cây Bàng để quên đi, nuốt vào lòng những tiếng thở dài, dẫu biết họ chết cũng quá đáng đời. "Thương trường là chiến trường", bây giờ người ta thường nói thế. Trên chiến trường kinh tế, những kẻ phản quốc hại dân, làm tay sai cho tư bản nước ngoài, thật đáng tội chết! Trước sau gì lão Hà Đông, thằng Đồng Triệu, lão Vũ Hồng Ngà cũng sa lưới pháp luật! Bọn Gion, Thủy - gián điệp CIA. - gian ác kia cũng phải chết!
Một tiếng chuông chùa ngân trên sân thượng, lan xuống hành lang nhà Hãng, âm vang thanh thoát khẽ rung lên. Có lẽ Tre Trúc đã về.
Ông Hương Chữ xoa đầu chú bé Cây Bàng, bày tỏ một cử chỉ từ giã với bà Lụa Hà và Song Mây. Trong bộ áo quần bà ba màu trắng, ông bước lững thững qua tòa nhà lớn, lên lầu. Tâm tư ông vẫn còn bâng khuâng về lẽ sống, lẽ chết ở đời. Ừ nhỉ, cũng chóng thật, mới đó đã sắp đến lễ bốn mươi chín ngày mất của ông bạn già Phùng Xứ. Ngày tháng thấm thoắt, ngỡ thong thả hóa ra vùn vụt. Tuổi càng cao, tóc càng trắng, càng bâng khuâng với thời gian!
Ông Hương Chữ lấy cây đàn bầu trên vách xuống, bước tới bàn xa lông, đặt trên mặt kính. Ông nhớ những ngón đàn đầu tiên đã được bạn thuở thiếu thời truyền cho. Bây giờ bạn đã về với lòng đất! Ông định gảy đàn, lại ngả lưng vào tựa ghế, ngậm ngùi, rồi lại suy tưởng đến Đạo Hiếu Nghĩa nghìn xưa. Tre Trúc đã rọi ánh sáng khoa học vào đó, nguồn mạch tâm linh thăm thẳm. Có gì trên đời này mãi mãi tĩnh tại, đứng yên đâu! Không có một tôn giáo, tín ngưỡng nào không biến thiên, cách tân! Chữ nhà Phật gọi là khế lí và khế cơ, phải giữ lấy nguyên lí, phải vận động với lẽ biến dịch của mọi sự vật, hiện tượng. Phật giáo cổ đầy mê tín, ma thuật với xin xăm, tàn nhang, nước thải. Đạo Thiên Chúa cổ cũng đậm ma thuật, mê tín với các hủ tục châu Âu. Tất cả phải đổi mới, mỗi ngày một mới, nếu không muốn bị đào thải khỏi lịch trình tiến hóa. Đạo Hiếu Nghĩa của tuyệt đại đa số người Việt Nam cũng phải đổi mới sau quá nhiều năm tháng bị bỏ mặc, vùi dập. Cái đình làng, có những hủ tục cần giũ bỏ. Phải mới, với nguyên lí hiếu và nghĩa. Đạo Hiếu Nghĩa không phải là tôn giáo, chỉ là tín ngưỡng. Cần phải chế định lại lễ nhạc, để bảo vệ, phát huy một bản sắc văn hóa nền tảng nhất, văn hóa tâm linh - lịch sử làng và nước. Xa xưa, đạo được duy trì nhờ các bô lão, các cụ đồ, các quan chức phục viên và các pháp sư. Pháp sư : ông thầy cúng, thầy phù thủy, cũng có thể kiêm luôn thiên văn, địa lí! Mê tín và ma thuật đã được ánh sáng khoa học rọi quét. Cái còn lại là triết học tâm linh - lịch sử dân tộc và làng xã. Lịch sử dựng làng, dựng nước, giữ làng, giữ nước đã trở thành tâm linh, tâm linh hiểu theo nghĩa duy vật. Đó là giềng mối làng và nước được đoàn kết, thắt chặt để mãi vững bền, tự nghìn xưa đến nghìn sau. Ông Hương Chữ nhớ đến ông thầy cúng của làng ông thuở nào ở Quảng Trị. Đó là cụ già lỡ vận với khoa cử. Học chữ Nho trên lưng trâu, giữa đồng đất, bên đụn rơm đến quên ăn quên ngủ, rồi cũng phải về lại với trâu, với ruộng, với rạ rơm, bởi ọạo Nho đã bị bãi bỏ. Ông ấy tên gì nhỉ? Ông Hương Chữ bóp trán, sực nhớ. À, thầy Lãn! "Lãn ông" của buổi giao thời cũ, cuộc chạm trán giữa Tây và Đông! Chính ông thầy chữ Nho này đã khơi trong ông Hương Chữ một mạch thi ca từ tuổi nhỏ. Ông đồ Nho lỡ vận thuở giao thời đó đã dùng cây bút lông, nghiên mực xạ để duy trì nghi thức tế tự ở đình, chùa và ở các gia đình. Một kẻ sĩ thao thức trước các đợt sóng Tây hóa! Một tâm hồn nặng nợ với truyền thống! Thầy Lãn đã cách tân các nghi lễ, nhưng vẫn chưa dễ giũ bỏ hết các mê tín và ma thuật, trước các thói tục đời đã nghìn năm hằn sâu trong tâm thức dân làng. Ông còn nhớ các tiểu xảo làm thơ, làm câu đối, ông học được ở pháp sư Lãn. Cái tên Hương Chữ ông tự khai sinh lại lúc theo cách mạng, kháng chiến chống Pháp là khởi từ tiểu xảo thơ ca ấy. Ông Hương Chữ đã mê mải ngâm đọc với ông Lãn, rồi nhờ đó, viết được câu đối song thất, và từ câu đối song thất chuyển thành đôi lục bát (lục bát có tiểu đối!). Về sau, có lần ông Hương Chữ viết:
lộc biếc đất, tay thơm nhánh chữ
tình hồng đời, mắt ngời hương thơ
lộc biếc đất, tình hồng đời
tay thơm nhánh chữ, mắt ngời hương thơ!

Ông Hương Chữ mỉm cười, miên man suy tưởng, hồi ức. Đạo Hiếu Nghĩa, Tre Trúc đã đọc tư liệu, đã vận dụng vốn sống thời tấm bé ở làng quê để lí giải và đề xuất, trong đó có cả đề xuất chế định lễ nhạc, để "tận nơi thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu". Cái "gốc" của lễ nhạc là tư tưởng yên dân, thân dân, là nhân nghĩa Việt Nam (bao gồm cả công bằng, công lí, dân chủ...), là văn hóa sinh hoạt, văn hóa lễ hội với truyền thống triết học tâm linh - lịch sử dân tộc và làng xã. Đâu phải vậy là siêu hình, duy tâm! Đâu phải thế là tạo tiền đề cho các thói tật lạc hậu, hủ tục mê tín, vàng mả, tinh tà, cầu cơ, ma thuật phù thủy!
Ông Hương Chữ thấy khế lí là đúng và khế cơ là phù hợp, cần thiết theo quy luật tiến hóa có đào thải.
Ông nhấp một ngụm trà nguội, mỉm cười, cúi xuống cây đàn bầu đã để hồi lâu trên bàn nước trước mặt, khẽ dạo đàn. Đó lại là khúc nhạc ríu rít âm thanh sự sống: "Nhạc rừng"! Cúc cu, cúc cu, chim rừng bay trong nắng... im nghe, im nghe, ve rừng kêu liên miên. Có anh chiến sĩ đi qua khu rừng vắng, lắng nghe nhạc rừng, tâm hồn anh phơi phới. Anh cười một mình, rồi cất tiếng ca vang lừng... Ông ngẩn ngơ với dư âm bản nhạc.
Lúc này, đàn xong bản nhạc yêu thích, bản nhạc thường xua hết nỗi buồn đau u ám trong tâm tư ông, ông Hương Chữ cảm thấy nhẹ nhàng... Ông đã đi đến tận cùng ý nghĩa của lẽ chết chưa, ông không dám bảo là đã thấu suốt hết. Có điều, ông Hương Chữ bây giờ không cảm thấy gánh nặng của cái chết (tất yếu của sự thành - hoại, lẽ sinh - diệt). Và bản nhạc ríu rít niềm yêu thiên nhiên, cuộc sống kia, vì được nghe với tâm trạng đã được giải tỏa, nên tươi tắn, phơi phới hơn bao giờ hết. Ông mỉm cười, lại suy tưởng, với một tâm thế khác.
Sinh nở là khổ. Già là khổ. Bệnh là khổ. Chết là khổ. Tham, sân, si và vô minh là khổ. Sống từng phút, từng giây là từng phút, từng giây khổ, vì luôn phải giày vò về lẽ tồn sinh: tồn sinh là phải sát sinh thực vật và động vật... Sống là khổ. Nhận thức cái khổ? Tìm ra nguyên nhân cái khổ, là vậy! Và tu hành, đạt đạo, nhập niết bàn để thoát khổ! Ông Hương Chữ suy nghĩ về lẽ sinh - diệt và tứ diệu đế nhà Phật. Ông cũng nghĩ về Phật tánh trong con người và mọi sinh linh. Với ông, Phật tánh là thiện căn, cái giúp con người có thể hướng thiện, trở nên con người chân chính. Ông vẫn rùng mình trước lẽ thật, sự thật cõi sống và kiếp sống. Ông thầm phục nhà Phật ở nhận thức về mặt tối, mặt sáng của con người, về thế giới khách quan. Tuy nhiên, ông thấy con đường giải thoát sao yếm thế, hư huyền quá.. Tri kiến của nhà Phật đúng quá, sao buồn quá, quá đỗi bi quan. Nhận thức ấy đóng chặt cánh cửa hoạt động xã hội, cánh cửa vui sống, để mở ra cánh cửa siêu thoát khỏi địa ngục trần gian này. Không còn hi vọng sự thoát khổ ngay tại trần gian để vui sống với trần gian sao? Đức Phật Di Lặc như một niềm hi vọng, biểu tượng của lạc quan mơ hồ, sẽ được nhìn nhận thế nào? Cái chính là một Phật giáo mới của tương lai, sẽ thế nào?... Trở về với cụ thể, ông Hương Chữ lại tiếp tục dòng suy tưởng, dự kiến...Trước mắt và lâu dài, phải đẩy mạnh chăn nuôi, trồng trọt, nhưng khoa học - công nghệ tự nhiên, cụ thể là công nghệ thực phẩm - lương thực của tương lai sẽ xuất hiện. Miếng ăn sẽ không còn là nỗi giày vò bởi tội sát sanh sinh vật nữa. Rồi sẽ có công nghệ điều khiển sinh vật. Sinh vật sẽ sống theo từng khu vực, có trật tự. Hãy hi vọng thêm vào sự tiến hóa tự nhiên. Hi vọng và hành động. Hành động ở đây là nghiên cứu, sáng tạo khoa học - công nghệ. Và ông sực nhớ:

HAI MƯƠI NĂM TRƯỚC
KHI UỐNG TRÀ Ở CHÙA

vùi cỏ gốc chè biếc
ngẫm thương cây lá hiền
nâng tách, vàng sánh đượm
nguyện đền ơn thiên nhiên

lẽ đời sao trầm thống
ngàn sau còn đảo điên
chén trà như bể khổ
sen cúi trong ngực thiền.

1993
Cuốc cỏ, vùi cỏ là giết sự sống! Ngắt lá chè, sao, tẩm làm trà là sát sanh! Đúng. Và phải tự giày vò lương tâm. Rồi mỗi bước chân mỗi sợ phải giẫm lên sự sống! Nhân đạo tuyệt đối đến bế tắc:

TRIẾT NHÂN ĐÁNH THỨC

... sợ đau cỏ dại sương nhòa
con sâu cái kiến kiếp xa luân hồi
héo gầy thiền sáng đôi môi
mắt nhìn, tay khẽ quét rồi đặt chân!...

Cùng với nhà Lão, chối từ kĩ thuật, công nghệ, quay về cuộc sống thuần phác, thô sơ, nhà Phật còn vì từ bi với cả cỏ cây, súc vật, đã ghìm "cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ, Văn Chiêu Hồn từng thấm giọt mưa rơi" (Chế Lan Viên)! Nhưng trừ Nho giáo, tôn giáo nào không thoát li trần gian?! Có tôn giáo nào đề cao ý chí và khát vọng nghiên cứu sáng tạo trong khoa học - công nghệ?!
Ông Hương Chữ lại bị cái chết dẫn dắt về một "Cụm tượng Hư Vô" ở sân đình làng. Đó là bài thơ về một người đàn ông bán thân bại liệt đến run quắp, ngọng câm, và về người con hiếu thảo nuôi dưỡng ông đến trọn đời. Ông sợ hãi kiểu đánh thức này, kiểu đánh thức của bệnh tật, chính người bệnh cũng không ngờ:
hơn nghìn đám tang nghìn nghìn nấm mộ
bóng dáng ông đánh thức tiếng thở dài
nhói niềm âu lo mong manh kiếp sống
giật mình, tay ai níu chặt tay ai!

Đình làng trong bài thơ là một không gian văn hóa tâm linh - lịch sử. Đó là nơi của các tượng đài anh hùng, nhà thơ, nhà khoa học tự nhiên... và của những con người bình thường lại vô cùng đức hạnh, trung hiếu, thuận thảo, còn là của mọi người.
và chẳng ai mất dẫu nghìn quên lãng
vô-thức-làng-thôn di truyền ngỡ không...
thoáng lá vào hồn, thiên thu xào xạc...
giọt mưa từ tâm, Dòng Sống ngọt hồng...

Truyện cổ tích nghìn xưa và truyện hôm nay ngỡ như cổ tích, ai bảo không là những mã di truyền văn hóa cho cả cộng đồng!
Ông Hương Chữ miên man, tản mạn, lan man, trôi theo dòng ý thức, dòng suy tưởng cùng Phan Kết Đoàn (*txa), nhà thơ con cóc (cách tự trào rất quen thuộc của các tác giả thơ), trên những dòng thơ của anh ấy. Ông nghe mình bâng khuâng...


34



Nắng sớm cuối tháng năm như hòa trộn sắc vàng óng ả với đất cát pha trên vuông sân khá rộng trước mặt. Quán cà phê lúc này đang vắng khách, chỉ thấy dăm bảy chiếc xe gắn máy, xe đạp dựng dưới gốc cây lớn khá cao ở một bên sân, cách quán một lối vào. Ba chiếc lọc đang nhỏ chậm rãi những giọt cà phê. Anh Mai Tự dạo này thỉnh thoảng gặp bạn bè cũ ở Sen Trắng tại đây. Từ độ gặp lại Song Mây ở hiệu sách Mây Núi, anh có đến thăm ông bà Hương Chữ - Lụa Hà và tất cả những người ở đấy hai lần. Cả hai lần, anh đều nén lòng, đau xót, tránh chuyện trò với Song Mây. Lần trước, lúc vợ anh - chị Bến Mai - chưa mất vì ung thư, anh còn ngượng, cảm thấy bất nghĩa với vợ, dẫu vợ anh đối với anh trong những năm trước khi chị ấy bị bệnh là cả một nỗi bực mình, khó chịu. Lần sau, cách ngày vợ anh mất đã bốn tháng, đến Sen Trắng, gặp cô gái anh vừa yêu, vừa lo âu, vừa ghê sợ, anh lại đang cảnh chịu tang khó. Chịu tang khó cũng là giữ nghĩa. Anh cảm thấy cảm giác ghê sợ về Song Mây trong anh sao bất nhẫn quá, độc ác quá. Nhưng đó là cảm giác thành thực, như anh đã thành thực ghê sợ bản thân mình. Cái lễ, rất hình thức, giữ cái nghĩa, ở bên trong nhân cách, anh hiểu điều đó, và hiểu cảm giác ghê sợ ấy xuất phát từ sự khắc kỉ chính anh đã tự tâm niệm. Anh quả là một cụ đồ hơn là một nhà giáo thời nay, riêng về mặt giữ gìn nhân cách. Có điều anh thấy điều tự tâm niệm ấy không có gì sai và cổ hủ cả. Đôi khi, anh có cảm giác hạnh phúc lạ lùng, thứ hạnh phúc trong sạch của sự khắc kỉ đúng mức ấy, trước những cám dỗ ngỡ không vượt qua được. Nhưng thật lòng, gần đây, niềm lo âu, sợ lại lầm lỡ đã biến thành niềm lo âu, sợ mất Song Mây! Anh biết mình còn yêu cô gái xinh đẹp, tài hoa, hơi thiếu kìm chế ấy nhiều lắm, mặc dù anh vẫn hiểu rõ nhược điểm thiếu kìm chế ở Song Mây là cả một nguy cơ ẩn chứa mầm mống tai họa. Anh Cơ Dân, Hãng, Hoàng và Hoài Hương cũng cơ chừng hiều điều đó: Niềm yêu đương của anh đối với Song Mây chưa nguôi bao giờ! Câu hỏi vừa thật vừa đùa của Hoài Hương mới rồi như chạm vào trái tim anh, phía sau ngực áo, nơi có đeo một hình bình hành màu đen để tang vợ. Anh lặng người. Một chốc, anh nhìn Hoàng và Song Mây, phân vân rồi thú thật:
- Tôi vẫn mến Song Mây chứ - anh Mai Tự hơi ngượng.
- Hơn cả mến kia? - Hoài Hương nhìn vào mắt anh.
- Có thể - anh cười, tránh ánh mắt đang soi vào mình.
- Em thấy người Việt mình bây giờ đã "thoáng" hơn nhiều, gần như người Mỹ rồi (!). Người châu Á cũng đã "thoáng". Thầy có lẽ thuộc vào nhóm người quý hiếm.
Anh Mai Tự đỏ mặt vì nhận định có vẻ khiêu khích ấy:
- Đừng gọi tôi là "Thầy". Đã nói nhiều lần rồi mà. Tôi đã nghỉ dạy học. Hơn nữa, tôi cũng có nhiều khuyết điểm đã phạm phải. Có gì mà quý hiếm! Tôi đã từng yếu đuối...
- Về Việt Nam ở lâu, đọc sách, em thấy cách mọi người, từ già đến trẻ, gọi nhà giáo là "Thầy, Cô" như sư thầy, sư cô là rất hay.
- Phần lớn còn trong sách thôi... Thực tế hiện nay... Chính chữ "Thầy" cũng là cái lễ, buộc nhà giáo phải xứng đáng là thầy. Điều đó đúng là nên phát huy. Còn tôi thì...
Hoàng nhấc chiếc lọc ra khỏi li. Cả ba người cùng ngừng câu chuyện để chuẩn bị cho ngụm cà phê thơm ngát đầu tiên.
- Anh Mai Tự chắc đã đọc quá kĩ cuốn sách của chị Tre Trúc. Em muốn nhờ anh giảng giải thêm một vài điều. Có thể anh đã nghĩ khác với chị ấy - Hoàng nói, rút từ túi xách ra một cuốn sổ tay có cài một cây bút ở bìa.
- Nhưng chỉ qua loa thôi nhé, bởi không có cuốn sách ấy tại đây - anh Mai Tự đáp - Cũng hơi bất ngờ đấy nhé!
- Em cũng quên mang theo mất. Có điều, cũng vài ý lẻ thôi. Em hỏi nhé. Bản sắc văn hóa Việt Nam nói một cách khái quát là gì hở anh?
- Đạo Hiếu Nghĩa với năm cấp độ thờ phụng, ở tâm, ở nhà, ở đình làng, ở đền thờ Tổ Quốc, ở đền thờ nhân loại, trời đất. Và chủ nghĩa yêu nước. Chưa có một dân tộc nào anh hùng, quật cường lại hiếu hòa đến thế. Việt Nam là dân tộc duy nhất thắng đế quốc Nguyên - Mông trên thế giới, đánh bại được chủ nghĩa thực dân cũ và đế quốc mới, mà Pháp và Mỹ là tiêu biểu... Hiếu nghĩa, yêu nước là hai nét chính, xác định bản sắc Việt Nam. Tất cả các giáo thuyết, học thuyết đều bị khúc xạ qua hai nhân tố cơ bản ấy. Đó là hai nhân tố bất biến. Nói là hai, nhưng thật ra chỉ là một. Tách ra hai là xét về khía cạnh tâm linh, khía cạnh lịch sử. Lịch sử yêu nước, chống ngoại xâm và dựng nước, đã trở thành tâm linh Việt Nam. Tâm linh hiếu nghĩa, với tổ tiên, dân tộc, và với cả nhân loại, với đất trời, vũ trụ, là lịch sử Việt Nam. Tâm linh trở thành sức mạnh vật chất, sức mạnh vật chất xuất phát từ bản lĩnh, tâm linh cụ thể ấy. Tâm linh ấy không siêu hình, duy tâm, nhưng rất thiêng liêng, trong nhận thức hiện đại.
- Còn các biểu hiện văn hóa khác, như ăn, ngủ, thở, ở, uống, tình dục, phong tục, lao động...
- Tre Trúc đã viết, loài người giống nhau về tính phổ quát, khác nhau cách biểu hiện cụ thể. Cụ thể thì vô vàn. Khác nhau cái liếc mắt, cái khóe cười, cái hôn, cái dáng đi, cái cách cầm đũa, cái mặc... ở dân tộc này với dân tộc khác. Không miêu tả hết được. Có một điều quan trọng, ấy là do nghèo, khoa học tự nhiên và công nghệ còn kém, văn hóa vật chất của ta như cái ăn, cái ở, cái mặc chưa được nâng lên về mặt vật chất. Như cái áo tứ thân Hoài Hương đang mặc, nếu may bằng vải xấu, sẽ khác, nếu may bằng vải công nghệ cao, sẽ khác.
- Cái áo dài là thoát thai từ xường xám Tàu?
- Nó từ áo dài người Việt - Tày, váy người Việt - Chăm và xường xám Tàu. Người Việt - Kinh cho nó thêm cái quần, tức là văn minh hóa, để trở thành cái độc sáng Việt Nam. Hai bạn có biết bài ca dao này không?
tháng tám có chiếu vua ra
cấm quần không đáy người ta hãi hùng
không đi chợ búa không đông
đi thì phải mượn quần chồng sao đang!

Thời vua Minh Mạng, đã có một cuộc cách mạng trang phục phụ nữ thành công. Hãi hùng rồi thấy có lí, tiện lợi, nên nhân dân miền xuôi đã hưởng ứng và thành nền nếp. Biết đâu, hồi ấy cũng có "cảnh sát văn hóa" đứng đầy các đường phố, đường làng, thuyết phục đi đôi với cưỡng chế - anh Mai Tự cười.
- Kín đáo trong cách mặc để tăng chất lượng, hiệu quả tình dục. Điều đó đúng không anh? - Hoàng hỏi.
Anh Mai Tự hơi lúng túng, ngỡ anh chàng kĩ sư Việt kiều Mỹ này giả nai để đùa. Anh nghiêm nét mặt:
- Đúng. Ăn mặc hở hang vừa khiêu dâm, vừa làm chai lì cảm xúc, cảm giác - anh Mai Tự đỏ mặt cười - Này, anh chợt nhớ một ý rất hay: Ngỡ vì tình dục mà tan vỡ hạnh phúc nên người ta quá chú trọng đến tình dục, hóa ra quá chú trọng đến tình dục lại là nguyên nhân gây nên tan vỡ gia đình. Hạnh phúc gia đình đôi lứa đâu phải chủ yếu là tình dục. Khoái lạc tình dục do tâm lí nhiều hơn. Bớt quan tâm đến tình dục càng nhiều thì sẽ quan tâm hơn đến hạnh phúc khác trong đời sống chồng vợ, gia đình, như quan tâm xây dựng gia phong, truyền thống khoa bảng của gia đình, sự hiếu thuận...
- Có văn hóa cá nhân không anh? - Hoài Hương hỏi.
- Rất hay. Phong cách văn hóa của từng cá nhân! Đó là một nhận thức rất đúng, cũng là một ý hướng rất hay. Phong cách văn hoá của cá nhân là trình độ học vấn, thẩm mỹ, nhân cách, đạo đức... Đó là cả một sự độc đáo nhưng hài hòa với văn hóa gia đình, văn hóa địa phương, văn hóa dân tộc...
- Kẻ sĩ là cột thu lôi văn hóa, cũng là bèo bọt thôi sao?
- Ngoài việc sáng tạo mới, kẻ sĩ còn tiếp nhận văn hóa ngoại nhập, điều hòa, truyền vào nhân dân. Nhân dân không đón nhận, phát huy thành nền nếp, thì thứ văn hóa ngoại nhập ấy sẽ bị loại bỏ. Có điều, sự sai lầm về văn hóa của kẻ sĩ, của nhà cầm quyền sẽ giết chết vài thế hệ về mặt tinh thần. Người ta đã nói vậy và nói có cơ sở lịch sử thế giới.
- Văn hóa bác học hay văn hóa dân gian là cơ bản?
- Câu hỏi của em là đã trả lời rồi. Kẻ sĩ, quý tộc chỉ một nhúm nhỏ thôi! - anh Mai Tự chụm tay như đang nhúm một nhúm cát - Có nhiều người thất học vẫn sống có văn hóa nhân cách, văn hóa ứng xử, hơn các kẻ sĩ chữ nghĩa đầy óc, bởi họ tiếp nhận qua gia đình, làng xã, văn học nghệ thuật dân gian... Văn hóa dân gian Việt Nam, ở nhân tộc Kinh, là nền văn hóa thống nhất dù bị chia cắt hơn hai mươi năm. Hai mươi năm là vô nghĩa so với bốn ngàn năm văn hiến, chung một cội nguồn...
- Việt kiều? - Hoài Hương hơi ngại - Anh có thể nói rõ...
- Việt kiều trẻ sinh trưởng ở một địa bàn văn hóa khác, khí hậu văn hóa khác. "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài"! - anh Mai Tự cố tránh né - Trở lại vấn đề văn hóa dân gian: Phong trào Phục Hưng châu Âu ở thế kỉ mười sáu cũng là ''về nguồn'', về với văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian là do nhân gian tiếp nhận, sáng tạo, vừa bay bổng, vừa thực tiễn, nhưng cũng có nhiều yếu tố lạc hậu, sai lạc... Hai bạn biết không, thời Phục Hưng, kẻ sĩ ở châu Âu đã công kích, đả phá sự chuyên chế của Thiên Chúa giáo lẫn triết học kinh viện của nó để khẳng định các giá trị dân chủ và nhân văn, thúc đẩy khoa học và sản xuất phát triển đấy.
- Phải đãi lọc, cách tân văn hóa dân gian chứ anh?
- Tre Trúc đã bàn kĩ. Phải đãi lọc, cách tân. Ước chi mọi sản phẩm tiêu dùng Việt Nam đều đậm đà bản sắc riêng của mỗi một nhân tộc trong năm mươi ba nhân tộc Việt Nam. Triết học, văn học, điêu khắc, lịch sử... của Việt Nam thể hiện cụ thể ở vật dụng tiêu dùng hàng ngày, nếu được vậy thì quá tuyệt... Và phải từ nhà trường, ngay từ mẫu giáo. Đã có một, hai thế hệ phụ nữ xấu hổ khi mặc áo dài, còn tuyệt đối "dị ứng" với áo tứ thân! Phải thêm một môn học ở nhà trường, đó là môn văn hóa học Việt Nam, bên cạnh môn ngữ văn Việt Nam. Cụ thể là học Đạo Hiếu Nghĩa, cách trang phục, âm nhạc dân tộc... Còn phải rèn luyện năng lực, hình thành khát vọng đọc sách tiếng Việt. Không đọc sách, tư duy rất kém... Phải yêu văn học cổ điển Việt Nam. Muốn thế, có khi phải "dịch" thơ chữ nôm (tiếng Việt cổ) ra tiếng Việt hiện đại... Đồng thời phải kiểm duyệt kĩ, bình luận thêm ở đầu mỗi cuốn sách, tập phim ngoại nhập, bằng nhiều hình thức sinh động, như vận dụng cách bình văn cổ truyền, các câu thoại của hề chèo, nêu vấn đề, định hướng... Phải nâng cao dân trí như thế, đồng thời phục hồi ruộng trợ cấp cho việc học, người xưa gọi là học điền... Mức học bổng phải khá hơn!
- Còn đàn ông? Họ có cần phải mặc áo the thâm?
- Một cách tự giác, cơ chừng theo bản năng giới tính, phụ nữ trên thế giới bảo lưu trang phục dân tộc tốt hơn đàn ông, bên cạnh một thiên hướng, có thể nói là ngược lại. Bộ quốc phục đàn ông Việt Nam, gồm cả khăn đóng, nếu là màu cà phê sữa, màu xanh da trời, màu cánh gián... thì quá đẹp đi chứ. Chính anh, vong thân mất rồi, bây giờ ai có cho một bộ cũng chẳng dám mặc! Kì quặc thế đấy! - anh Mai Tự bật cười, chua xót.
- Có nhiều cái chúng ta bị áp đặt, lỡ quen mất rồi, như vấn đề lịch theo đạo Chúa chẳng hạn. Chúa nhật hay chủ nhật chỉ một nghĩa! Lịch ấy xem năm sinh của Chúa là khởi đầu một công nguyên mới! Đó là sự áp đặt, bây giờ...
- Phải sửa. Có lẽ ai cũng thấy đó là sự áp đặt phi lí. Vấn đề là ai có quyền để sửa?! Ai dám sửa?! Mọi cái tồn tại quá lâu, hằn sâu lên não trạng mất rồi! - anh Mai Tự nói - Hoá ra từ nãy đến giờ, chúng ta hỏi rồi đáp, đáp rồi hỏi, như thể là... Buồn cười nhỉ! Tôi chỉ muốn Hoàng và Hoài Hương hiểu cho, tôi-nhận-thức và tôi-sống-trong-đời-thật có một độ chênh đáng buồn, đáng trách lắm!... - anh Mai Tự cười buồn - Trở lại vấn đề lịch, có thể lại khởi đầu từ năm hai nghìn lẻ một. Không gọi là hai nghìn lẻ một, mà là "Hòa Bình 1" (HB. 1)... vân vân... hoặc một chữ tượng hình chim bồ câu trước con số thứ tự ( 1, 2...) - một chốc, anh lại cười - Về độ chênh, sống thật và nhận thức, tôi...
- Ai cũng vậy, anh Mai Tự à. Bọn em càng tệ hơn. Mà ngay cả chị Tre Trúc, không phải em nói xấu chị ấy, thật sự là vẫn sống với quan niệm vô thức về "trọng nam khinh nữ" và "phụ quyền" (nam quyền gia trưởng). Em nghĩ, do vấn đề kinh tế gia đình! - Hoài Hương nói sau một lúc ngẫm nghĩ.
- Và do độ chênh anh vừa nói nữa! - Hoàng xen vào.
- Hôn nhân Việt Nam, ở người Kinh, có đặc điểm là con gái về nhà chồng không có của hồi môn - Hoài Hương lại nói.
- Tre Trúc đã viết rồi! Nhưng bù lại, có áp lực của phong tục khá bình đẳng, là đàn bà luôn "tay hòm chìa khóa", là "nội tướng", lại được đối xử như nội tộc nhà chồng. Đàn ông "tay hòm chìa khóa" là bị làng xóm khinh bỉ ngay. Trong thực tế nghìn xưa đến giờ, đàn bà vẫn nắm kinh tế gia đình, lao động chính bên cạnh chồng. Phụ nữ Việt Nam từng có nhiều danh tướng trận mạc: Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Định... và truyền thống "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh". Đừng xem thường sức mạnh phong tục. Đó là sức mạnh như là sức mạnh có tính vật chất. Dưới nhãn quan kinh tế luận, vẫn thấy có "của chồng, công vợ"! Tất nhiên, đó là nếp xưa, thời người vợ khác họ đã "sống gửi nạc, thác gửi xương" vào nhà chồng, họ tộc chồng. Bây giờ... - anh Mai Tự lại cười - Và hai bạn thấy không, ba tác phẩm cổ điển lớn nhất của Việt Nam lại đều viết về phụ nữ, kêu đòi cho phụ nữ. Đó là Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm và Truyện Kiều, mặc dù Truyện Kiều chỉ là tác phẩm phỏng tác (Nguyễn Du viết lại trên cơ sở truyện văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân, Thanh Tâm lại viết theo truyện của Dư Hoài, Dư Hoài lại viết theo Mao Khôn!) (25).
- Em biết, như Ham-lét (Hamlet) của Sếch-x-pia (Shake speare), Phao-x-tơ (Faust) của Gớt (Goethe)... Họ cũng sử dụng chất liệu cốt truyện của người khác, của dân gian.
- Đúng. Đó là thi pháp văn chương trung đại. Có lẽ dịch, phỏng tác đỡ phải vào ngục văn tự hơn là sáng tác! Nhưng vấn đề đang bàn dở là phụ nữ. Có danh tướng phụ nữ và có thân phận phụ nữ bị làm "đồ chơi", phụ nữ khát vọng hạnh phúc, lên án chiến tranh phi nghĩa...
- Kiều đòi phẩm giá và công lí nữa chứ anh!
- Thật ra Kiều chỉ là một nhân vật hiện thực chủ nghĩa. Kiều báo ân báo oán kiểu tư ân, tư thù thôi. Tư thù quá đỗi nhỏ nhen! Không thể không trào nước mắt trước cảnh bị quan lại nhũng nhiễu, bức hiếp, cảnh bị bọn nhà thổ lừa đảo, đánh đập, sỉ nhục, cảnh bị đánh ghen thâm độc, tàn ác bởi Hoạn Thư và bà phu nhân thượng thư (mẹ vợ Thúc Sinh), nhưng cũng rợn người trước cảnh báo oán của Kiều. Việc trả thù của Kiều quá độc ác, dã man, chỉ thấy rất ít ở một vài vua chúa, ở một vài điều luật hình pháp xa xưa, xa lạ với tâm tính nhân hậu của người Việt. Điều này, cũng như sự trả thù, sau rất nhiều lần nhân hậu, của cô Tấm. Nó có gì đó quá tàn ác (cái tàn ác ngoại nhập?). Trở lại với Truyện Kiều, Kiều cao thượng, cũng là cao thượng của nhỏ nhen, chưa phải là đòi công lí cho xã hội, như giải phóng hết các ca kĩ, kĩ nữ. Sự tầm thường, nhỏ nhen ấy rất thật ở một nhân-vật-hiện-thực cụ thể. Vừa đáng quý, đáng thương, vừa đáng trách, nhân vật Kiều dở và hay là ở chỗ rất thật ấy. Nhưng quá ca ngợi Kiều là hạn chế của Nguyễn Du. Nên đau về cái tầm thường chứ không nên ca ngợi cái tầm thường. Thương quá mức cái tầm thường là đồng lõa... Như bất kì danh nhân nào khác, Nguyễn Du cũng có những hạn chế do bản thân, do điều kiện lịch sử. Học tập các danh nhân, cần thấy rõ những hạn chế đó. Đúng vậy, Nguyễn Du có những hạn chế cụ thể - lịch sử, phải phỏng sách Tàu... nhưng vẫn vĩ đại! Người ta hiểu vì sao Từ Hải được anh hùng hóa trong hạn chế ấy... Dẫu sao, Truyện Kiều vẫn là tuyệt tác ngôn ngữ, lục bát Việt Nam... Ở ba tác phẩm lớn, cổ điển (Kiều, Chinh phụ, Cung oán) là tấm lòng đối với phụ nữ. Hai trong Tứ Bất Tử của tín ngưỡng Việt Nam cũng là phụ nữ: Tiên Dung và Liễu Hạnh. Một Tiên Dung trọng trinh tiết theo quan niệm cổ (ánh nhìn của người khác giới vào thân thể người nữ cũng là vấn đề...) và không phân biệt đẳng cấp, đồng thời có ý thức về sự tôn trọng nhân phận tiên thiên. Một Liễu Hạnh thương dân, cứu người và rất thi sĩ. Anh thấy hình như trong cuốn sách của Tre Trúc, cô ấy tránh cho phụ nữ lao động nặng nhọc. Đúng thôi. Phụ nữ có thể làm tướng, cầm quân ra trận, lao động trí óc, chân tay rất giỏi, nhưng phụ nữ bốc vác hàng hóa nặng thì không hợp với giới tính, ngoại trừ khi chiến tranh...
- Anh có cho rằng văn học nghệ thuật có một nguồn lực thúc đẩy là nỗi đau không?
- Các thiên cổ hùng văn cũng khởi từ nỗi đau, đó là nỗi đau mất nước. Nhưng niềm vui, hạnh phúc, khát vọng ... cũng là nguồn lực.
- Anh bàn lại vấn đề văn hóa tình dục đi!
Hơi ngẩn người, anh Mai Tự nhẫn nại cười:
- Có văn hóa ăn, văn hóa uống, văn hóa ngủ, văn hóa bài tiết, văn hóa thở, văn hóa ở, văn hóa mặc, văn hóa lao động, văn hóa chết... Có văn hóa tình dục nữa. Lễ cưới là văn hóa tình dục. Quan hệ tình dục thế nào, là văn hoá tình dục. Quan niệm thế nào về tình dục, kể cả thao tác tình dục, tư thế hoạt động khi quan hệ tình dục... là văn hóa tình dục. Không nên quá khoái lạc chủ nghĩa ở lĩnh vực này. Nên "tôn giáo hóa", thiêng liêng hóa sự truyền giống, sinh hoạt tình dục. Bởi không thể thỏa mãn nhu cầu "của lạ" được. Nhu cầu tình dục trong quan hệ vợ chồng dưới mức cung. Cung vượt cầu. Không quan hệ tình dục vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, sống lâu... Đời sống không tính dục của các tu sĩ là dẫn chứng hùng hồn. Hai bạn biết không, đã từng có vị vua chạm mặt mình lên lin-ga, gọi là Mu-kha-lin-ga (Mukhalinga) (26). Đó cũng là thần Si-va (Shiva)... Bộ phận sinh dục được chính trị hóa, tôn giáo hóa là để chế ngự lòng dâm và chủ nghĩa khoái lạc bừa bãi. Đó là văn hóa tình dục... "Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh là câu trau mình". Tiết hạnh là chữ trinh. Chữ trinh là văn hóa tình dục... Thôi, bàn chuyện khác đi. Xem ra sống có văn hóa là cả một việc khó, nhưng cũng dễ. Bản sắc văn hóa bao giờ trở thành bản lĩnh văn hóa cho từng cá nhân, bấy giờ mỗi người sẽ sống rất thanh thản và trong sáng, tốt đẹp và cao quý. Bản lĩnh văn hóa là cái nền tảng, cái không thay đổi trước mọi va chạm về hệ giá trị văn hóa. Thời Mở cửa là cả một thách thức. Bao cơn bão nhục cảm đổ bộ vào đất nước. Những cơn bão nhục cảm có vẻ văn minh, tối tân, được bảo chứng bằng khoa học, bằng công nghệ tiên tiến và kinh tế phong phú! Thực ra, tình dục lại là một công cụ chính trị, tâm lí chiến... Thôi, trưa rồi. Ngồi chơi một chốc nữa, mình về. Văn hóa là chuyện vô cùng. Và chỉ mới chú trọng đến văn hóa nhân tộc Kinh, tức là Việt - Kinh. Còn năm mươi hai nhân tộc đồng bào nữa, như Việt - Thái, Việt - Vân Kiều, Việt - Chăm, Việt - Cơ Ho, Việt - Khơ-me... Chú trọng đến văn hóa Việt - Kinh là chỉ chú trọng một phần năm mươi ba của nền văn hóa đa nhân tộc Việt Nam. Tạm bằng lòng với cốt lõi chung nhất là Đạo Hiếu Nghĩa và chủ nghĩa yêu nước của năm mươi ba nhân tộc Việt Nam vậy nhé... - anh Mai Tự chân thành khiêm tốn.
- Vắn tắt, cô đọng là: Đạo Hiếu Nghĩa và chủ nghĩa yêu nước. Phải không anh? Hiếu là biết ơn, trả ơn và nghĩa là chính nghĩa, lẽ phải, công lí, văn minh, chân lí...
- Nhưng để thoát cảnh nghèo, phải giỏi khoa học tự nhiên, công nghệ, và bảo vệ, phát huy, cách tân bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là chủ nghĩa yêu nước hiện nay, và trong tương lai. Làm sao cho độ chênh, quãng cách giữa cái-tôi-nhận-thức với cái-tôi-sống-trong-đời-sống-thật, khớp với nhau, thu hẹp quãng cách lại. Sự vươn lên của cái cây văn hóa, cần có địa bàn văn hóa, khí hậu văn hóa tốt, không bị nhiễm độc. Phải làm sạch môi trường văn hóa - anh Mai Tự cười - Đúng là anh tầm thường, nhưng không cam chịu sống tầm thường.
- Không cam chịu tầm thường về văn hóa là đã văn hóa rồi!
- Nhưng vấn đề là mức văn hóa! Thôi, trưa quá rồi! Không ngờ sáng nay lại bàn luận về cuốn sách của Tre Trúc!... Ờ, bản thân mỗi người - mỗi "cái cây văn hóa" - cũng phải trau dồi bản lĩnh tự thân...
Hoàng gấp cuốn sổ tay đang đặt trên bàn nước. Hoài Hương đang suy tư, cô đăm đăm nhìn ra nắng. Quán cà phê đã nhiều khách. Khách đang chuyện trò quanh bàn của họ. Hoài Hương chừng như còn muốn nán lại, cô nhìn anh Mai Tự:
- Anh vui lòng cho em hỏi một câu nữa thôi, anh Mai Tự ạ. Còn có một đặc điểm nổi bật nào ngoài Đạo Hiếu Nghĩa và chủ nghĩa yêu nước không anh?
- Còn hai nét bản sắc nổi bật - anh Mai Tự trầm ngâm - Đó là tính hiếu hòa, nhân hậu và tinh thần lạc quan. Anh muốn nói đến nụ cười nhiều ý nghĩa và bao giờ cũng cười, dù khó khăn, cơ cực, cay đắng đến mấy.
... lẽ đời, sinh tử, buồn tênh
gậy thần chỉ sáng cái nhìn mù đau
(không có gì tan mất đâu
thấy trong gỗ mục nguyên màu chồi tươi
bàn tay in dấu vào Đời
cho nghìn xưa sống với người nghìn sau)
với niềm khát vọng thẳm sâu
người mang sách ước đọc vào tự nhiên
con người bỗng hóa thần tiên
bởi rất người rất tự tin chính mình
như từ trong thuở u minh
cánh tay người muốn nâng lên vòm trời
là hoa, phải sáng nụ cười
người ta - hoa của đất trời - sáng lên!

3

trước giặc thù vẫn điềm nhiên
uy rồng ở nụ cười tiên Diên Hồng
từ dân, Gióng đẹp lạ lùng
lòng dân - trời rộng - anh hùng bay lên
hòa bình xanh ngát mông mênh -
tiếng đàn cho giặc trái tim con người
nồi cơm độ lượng không vơi
Thạch Sanh - rạng rỡ chất người-rồng-tiên!

4

bài ca sức sống Kẻ Diên
hát trong tuyệt vọng, sáng thêm cách nhìn
oán thù, vẫn sẵn ngọt lành
bát nước đổ xuống, bưng lên, lại đầy
nhân tình, cười ấm lòng say
rất nhân hậu, nhẹ nhàng thay nụ cười
buồn, vui cũng miếng trầu tươi
bâng khuâng thắm thiết hồng đôi môi người...

Anh Mai Tự đọc, quên mất trời đã quá trưa. Anh lại nói:
- Đó là một bài thơ khá dài. Bài ấy nghe bạn anh Cơ Dân nói, ban đầu anh ấy lấy tên là "Nụ cười". Đó là nụ cười Việt Nam - như sực nhớ, anh Mai Tự nhìn Hoài Hương - Để anh đọc hai bài ca dao Quảng Trị cho hai bạn nghe:
tháng giêng tháng hai tháng ba tháng bốn
tháng khốn tháng nạn
đi vay đi tạm được mấy quan tiền
ra chợ Kẻ Diên, mua một con gà mái về nuôi
nó đẻ ra mười cái trứng
cái thứ nhất : ung, cái thứ hai: ung, cái thứ ba:
ung,
cái thứ tư: ung, cái thứ năm: ung, cái thứ sáu:
ung,
cái thứ bảy: ung!
còn ba cái nở ra ba con
con thứ nhất: diều tha! con thứ hai: quạ bắt!
con thứ ba: mắt cắt xơi!
đừng than phận khó ai ơi
còn da, lông mọc, còn chồi, nẩy cây!

Ca dao đã nói hết sức sống không gì dập tắt nổi với niềm lạc quan trong tột cùng cay cực! Chưa bị lột da, chưa bị chặt trụi, bứng gốc, thì vẫn còn sự sống, sức sống, tinh thần lạc quan. Hình ảnh ấy ở bài ca dao này, hơi ghê sợ, nhưng có giá trị tố cáo sâu sắc, mạnh mẽ... Anh không muốn nói gì thêm nữa. Và đây là một bài về cảnh ngặt nghèo, sự cạnh tranh, thù oán. Trước thù oán, chỉ buồn bã, cam chịu, như đã ngộ được bản chất của cõi đời, của loài người. Đó là cái buồn bã, cái cam chịu đã ẩn chứa khát vọng lẽ phải, là một lời tố cáo xót xa. Đó là sự vin níu vào nơi chốn kỉ niệm và tình bạn nghèo:
tháng giêng tháng hai tháng ba tháng bốn
tháng khốn tháng nạn
đi vay đi tạm được mấy quan tiền
ra chợ Kẻ Diên, mua một vác tre
về che cái quán
ai thù ai oán
phá quán tôi đi
tôi thương cái cột, tôi nhớ cái kèo
tôi thương cái đòn tay, tôi nhớ cái cửa
nơi bạn nghèo gặp nhau! (27)

Anh Mai Tự rân rấn nước mắt. Anh cố mỉm cười, khẽ chớp mắt, hơi mắc cỡ. Hoàng và Hoài Hương cũng nghẹn ngào. Họ ngồi yên không nói gì một lúc thật lâu.
Anh Mai Tự nhìn đồng hồ, thấy đã mười giờ rưỡi. Anh biết trưa nay chắc phải cùng con trai đi ăn cơm quán, bởi lúc này, nếu ghé chợ trước khi đón con để cùng về nhà thì đã quá trễ. Đằng nào cũng trễ rồi, anh thầm bảo, khi thấy Hoàng và Hoài Hương vẫn còn muốn nói gì đó.
Ngoài sân, nắng gần đứng bóng. Những bộ phận mạ kền của các chiếc xe dựng thành dãy chói ngời đến lóa mắt. Nắng mùa này cũng gắt thật, tuy không oi bức nữa.
- Em bỗng thấy thích làm người Việt ở Việt Nam quá, anh Mai Tự ạ. Người mình còn nghèo, còn những nỗi đau hậu chiến, còn mặc cảm Bắc, mặc cảm Nam... nhưng thật sự vẫn rất đáng yêu, đáng quý - Hoài Hương nói với vẻ xúc động.
Anh Mai Tự mỉm cười:
- "Ta về ta tắm ao ta" là tốt, nhưng ao đục hay ao trong là tùy mình thôi.
- Thật ra, ở Mỹ, mức sống khá cao, tuy cũng bị buộc lao động cật lực để sống với mức sống đó... Cơ chế xã hội buộc mình xài sang và làm việc rất căng thẳng... Nhưng nói gì đến chuyện mức sống! - Hoàng tâm sự.
- Mức sống vật chất quan trọng chứ! Rất quan trọng! Và mức sống văn hóa - tinh thần nữa... Chẳng hiểu sao hai bạn lại hết mình với ngữ văn Việt khi đã là kĩ sư, cử nhân?
- Hình như anh đã có lần hỏi bọn em rồi. Chả là ba em hồi nhỏ, bị một thầy giáo dạy quốc văn mắng, đại để người Việt mà dốt tiếng Việt, viết sai chính tả, ngữ pháp, không thuộc được trăm bài ca dao, trăm câu tục ngữ Việt thì không xứng là người Việt. Ba em nhục quá, cố học, nhưng cũng chả đến đâu vì phải vào lính ngụy. Em đang trả mối nhục ấy cho ba em,... - Hoài Hương rưng rưng nói, rồi mỉm cười, chớp mắt - trả cái nhục ấy bằng cách học tiếng Việt.
- Thôi, lỡ rồi. Học xong, cứ về Mỹ là hay nhất. Phải học thêm khoa học kĩ thuật để chuyển giao về giúp nước. Phải cố tích góp vốn để cho người trong nước vay. Vậy chẳng tốt hơn sao ? - Hoàng nói - Nói theo ông Hương Chữ, ở Miền Nam này không còn bóng tư sản nước ngoài, không còn bóng Việt kiều, không còn bóng cán bộ dân chính Miền Bắc, bất kì người dân Miền Bắc nào, để người Miền Nam làm chủ Miền Nam, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, là tốt nhất. Tuyệt đối, Việt kiều không về nước nữa.
Anh Mai Tự giật mình, suy nghĩ. Lát sau, anh nhìn Hoàng, khẽ gật đầu. Cả ba người lặng im nhìn ra sân đang ngập nắng. Nắng tháng năm rực rỡ, dịu mát bởi mùa mưa đã về mấy tuần nay. Họ ngồi bên nhau, lặng lẽ.
- Câu nói vừa rồi của Hoài Hương khiến anh rất cảm động - anh Mai Tự không tự xưng "tôi" một cách khách khí nữa, và bỗng nhiên lại dùng từ "anh" nghe thật thân tình. Anh trầm ngâm rồi nói tiếp câu vừa bỏ dở - cả ý tưởng vừa rồi của Hoàng nữa. Đúng là có nhiều điều vượt quá tầm anh em chúng ta. Lịch sử diễn ra lắm sự kiện rất bất ngờ, ngoài ý muốn. Cũng như hai bạn, anh có là gì đâu. Chúng ta bị cuốn như những ngọn lá trong bão táp lịch sử. Cán bộ và nhân dân miền Bắc đã thắt lưng buộc bụng, hi sinh xương máu rất lớn vì sự nghiệp giải phóng Miền Nam. Lẽ ra, để sự nghiệp ấy đẹp hơn, trong sáng hơn, nhân dân và cán bộ Miền Bắc phải tạo điều kiện tối đa để người Miền Nam làm chủ Miền Nam thật... Còn số dân Miền Bắc đi vào các vùng kinh tế mới ở Miền Nam, đó là những người cơ khổ, nghèo xác nghèo xơ. Chẳng lẽ bây giờ học phải trở ra Bắc lại?! Nhẫn tâm và vô ơn quá. Rồi giai đoạn Mở cửa này, rất phức tạp... Chúng ta chỉ trách sự tranh đoạt địa vị... Nói ra thế, gây mất đoàn kết, thật không nên... Còn việc Mở cửa, phải nói là nước mình mở cửa kinh tế trong thế bị động, sau khi bị Mỹ vừa phục thù, vừa làm sức ép bằng sự cấm vận, lại do tình hình quốc tế đang ở lúc thoái trào cách mạng. Đổi mới, dân chủ là quá đáng mừng, sửa sai là đáng phấn khởi... Tuy vậy, lại có nhiều điều đáng buồn. Không bao giờ nhân loại hòa bình, hữu nghị được, nếu còn chủ nghĩa tư bản đế quốc, còn "con đỉa hai vòi"! - anh Mai Tự mỉm cười, chua chát - Còn các bạn, chẳng lẽ không về nước thăm viếng? Các bạn bị ba má sinh ra ở đất khách quê người, có chọn lựa gì đâu! Nỗi đau hậu chiến vẫn còn âm ỉ chưa nguôi! Đừng bị sa vào kế li gián, chia rẽ Miền Nam - Miền Bắc.
- Anh bảo tư sản nước ngoài làm sức ép để nước mình phải Mở cửa cho chúng vào bóc lột? - Hoàng hỏi, sau một lúc.
- Đúng. Theo cá nhân anh là đúng như vậy. Chấp nhận đầu tư của tư sản đế quốc là sai với nguyên lí của chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhưng đó là việc vượt tầm anh em chúng ta. Các nước nghèo trên thế giới này đều bị như vậy. Chủ nghĩa tư bản đế quốc bây giờ chỉ thay đổi bộ mặt, cái mặt nạ thôi, xem ra hào nhoáng hơn. Ngẫm cho sâu, không có tôn giáo đích thực nào, đạo đức học đích thực nào chấp nhận chủ nghĩa tư bản đế quốc, thứ chủ nghĩa của tham vọng tư hữu, chiếm đoạt, bóc lột. Nước nào làm ăn ở nước đó là tốt nhất, chỉ trao đổi khoa học, công nghệ và tinh hoa văn hóa cho nhau trong tình nhân loại... Khát vọng hòa bình của nhân loại đâu phải không có giải pháp thực tiễn - anh Mai Tự mỉm cười - Anh lại mắc phải cố tật của Hãng rồi, cứ bàn luận về chính trị! Nhưng lẽ nào sống mà không có những thao thức thời thế?
- Ngoài bản lĩnh văn hóa dân tộc, còn phải có bản lĩnh chính trị chăng? - Hoài Hương cũng ngượng khi phải chính trị một cách sống sít, nhưng cô hiểu, đây là một cuộc đàm luận, không thể không dùng các thuật ngữ khô khốc, khô khốc nhưng minh xác vì tính đơn nghĩa.
- Bản lĩnh văn hóa, bản lĩnh chính trị là cái gì phải rất hồn nhiên, thành máu thịt rồi. Như thiền sư, rất phật tuy chẻ tượng Phật và xem kinh điển như cái bè qua sông (qua sông rồi thì vứt bè, cõng theo chỉ thêm nặng) vì tượng Phật với kinh điển chỉ là phương tiện thôi, cứu cánh là đạt đạo, đạo là ở trong tâm, là bến giác. Như thiền sư, với chủ nghĩa Việt Nam, ta thở, ta đi, ta làm ăn... phải rất văn hóa, rất chính trị - xin hiểu chính trị là lòng yêu nước, là hoài bão khoa học, công nghệ tiên tiến, là khát vọng hòa bình, dân chủ, dân giàu và nước mạnh, là chí căm thù sự bóc lột, xâm lược... Nhưng anh đã nói giữa cái-tôi-nhận-thức và cái-tôi-sống-thật, có một độ chênh, có một quãng cách, giữa lí tưởng chính trị và thực tiễn chính trị trong nước, trên thế giới còn có nhiều trái ngược. Thôi, nói thế này, phải như thiền sư, học đạo, tu đạo rất sâu, rất kĩ, phải sống rất đạo rồi mới chẻ tượng Phật và vứt bỏ kinh điển được. Phải học để vứt, để sáng tạo mới, thoát khỏi sự nô lệ kinh điển, để hồn nhiên thượng thừa. Hồn nhiên thượng thừa, chứ không phải hồn nhiên ngu dốt! Cũng không phải là "tín đồ chính trị"!
Hoàng lại ghi chép vào sổ tay nãy giờ. Có nhiều điều Hoàng và Hoài Hương cơ hồ còn ngờ ngợ, thấy chưa thật hiểu thấu đáo.
- Hình như tính nhân đạo của Phật giáo là, bất kì ai, xấu hay tốt, ta cũng phải thương hết, kể cả kẻ xâm lược, kẻ ác?
Câu hỏi chệch ra mạch chuyện của Hoài Hương khiến anh Mai Tự giật mình. Không, không phải chệch và bất chợt.
- Ai cũng có Phật tánh. Người ác là do nghiệp cũ, do tập nhiễm, do ngu muội, tham sân si. Nghiệp còn là mã đồng biến, dị biến? Do đó đáng thương, cần cảm hóa họ. Thiền sư ra trận giết giặc là buộc phải phạm giới trong thế bức bách. Không nên giết rắn, giết đỉa hai vòi, mà nên thu phục cảm hóa chúng. Đó là một ngụ ngôn. Ngụ ngôn ấy còn thể hiện ở một số bức tượng Phật: Đức Phật tọa thiền trên con rắn dữ cuộn tròn. Anh nói như thế có hơi quá "hữu" không ?
- Sao anh Hãng có một bức tượng diễn tả âm thanh của chuông chùa hoá thành gươm đao chém ''đỉa hai vòi''?
Anh Mai Tự gật đầu, muốn để cho hai bạn trẻ suy nghĩ:
- Cái đó hơi quá "tả" chăng? Cứ hỏi ở Hãng, sao lại hỏi anh? - anh xem đồng hồ tay - Thôi, trưa rồi, hơn mười một giờ rồi, anh phải về đón cháu. Sẽ gặp lại nhé - anh đứng dậy, nói tiếp ý bỏ dở - Biết đâu Hãng đúng. Ồ, mà đúng thật. Thời Nguyễn An Ninh là phải giết giặc chứ... Nhớ nhắc nhau là đừng sa vào kế li gián, chia rẽ Nam - Bắc. Nhưng, rất không nên xây dựng khối đoàn kết trên ảo tưởng về nhau. Rất nên biết sự thật Nam, sự thật Bắc để đoàn kết bền vững.
Cả ba bước ra chỗ để xe. Ba nụ cười thân thiết, cảm thông sáng trên ba gương mặt trẻ tuổi. Họ hẹn lại gặp nhau.
Trên đường về, ngược chiều với Hoàng và Hoài Hương, anh Mai Tự mỉm cười, tự bảo: Hóa ra sáng nay hai Việt kiều Mỹ này lại "quay" anh rất gắt! Anh cảm thấy mừng khi trông họ đã khác trước, hiểu họ không còn bạt mạng trong nếp nghĩ, nếp nói như dạo nào. Anh cảm thấy tiếc, quên bẵng một ý tưởng thật cần thiết lẽ ra phải nói với họ: Trong năm cấp độ sống, cá nhân, gia đình, làng (xã), Tổ quốc, nhân loại, nếu có sự mâu thuẫn, phải biết chọn lựa cấp độ nào, hi sinh cấp độ nào. Giữa dân tộc (Tổ quốc) và nhân loại, chắc chắn không có mâu thuẫn trên bình diện phổ quát. Dân tộc nào chả khát vọng và quyết tâm gìn giữ, độc lập, tự do, hạnh phúc, bình đẳng, đạo lí...? Chiến tranh xâm lược chỉ do kẻ cầm quyền, không phải do nhân dân các nước. Riêng về bản sắc văn hóa các dân tộc, ở bình diện cụ thể vẫn có nhiều mâu thuẫn. Có nhân tộc ở nước kia cho rằng, hiếu với cha mẹ là khi cha mẹ đã già, phải mang cha mẹ lên cây cao, rồi rung cây cho cha mẹ ngã xuống, chết. Có nhân tộc ở nước nọ đặt xương cha mẹ vào bao gối để kê lưng, xem vậy mới là đúng đạo hiếu. Báo hiếu với cha mẹ như thế hẳn trái với phần lớn tuyệt đối các nhân tộc trong nhân loại. Mâu thuẫn ở biểu hiện cụ thể này cũng là mâu thuẫn ở tính phổ quát sao? Nhân tộc ấy thương cha mẹ già, bệnh, khổ sở, quằn quại, nên "giết" đi để cha mẹ đỡ phải chịu đựng? Đúng một cách bất nhân! Mặc dù về tính phổ quát, vẫn đúng, nhưng về mặt biểu hiện cụ thể, nhân loại không thể chấp nhận vậy. Phải soi bản sắc văn hóa một nhân tộc vào văn hóa các nhân tộc trên thế giới để tự điều chỉnh. Văn hóa các nhân tộc cũng phải soi vào một nền bản sắc văn hóa của một nhân tộc để tự điều chỉnh. Có những biểu hiện cụ thể về văn hóa khó bề được chấp nhận, dẫu khá phổ biến ở nhiều nhân tộc!... Anh Mai Tự thấy hai người Mỹ gốc Việt thân thiết với anh không thể không vấp phải mâu thuẫn trong đời sống. Con người cụ thể nào cũng sống và sống với, ở năm cấp độ sống đó. Hoàng và Hoài Hương mang huyết thống Việt, nhưng qua Mỹ từ bé hoặc sinh và trưởng ở Mỹ, về học ở Việt Nam, rồi lại qua Mỹ sinh sống, chắc chắn trong họ là cả một khối xung đột lớn giữa các hệ giá trị văn hóa, các biểu hiện cụ thể có tính bản sắc văn hóa... Hiểu vậy, sẽ dễ sống hơn, đỡ bi kịch hơn. Anh tin cộng đồng người Việt ở Mỹ sẽ đóng góp văn hóa Việt vào nền văn hóa Mỹ, một nước đa văn hóa.
Anh Mai Tự cũng tự bảo, anh đã quên lưu ý cho hai bạn, sự nhất thể hóa có ý thức, hay do sự giao lưu mà hình thành của toàn thế giới về cách trang phục, về nếp ăn, nếp ở... là cả một sai lầm lớn. Có chủ ý hay không chủ ý? Dẫu sao, cũng đã làm nghèo các bản sắc văn hóa nhân loại. Hiện nay, thực trạng đáng buồn là phần lớn nhân loại đã gần như bỏ hẳn cách ăn mặc truyền thống của mỗi nhân tộc. Thoạt nhìn, người Pháp, người Mỹ, người Nga, người Hoa, người Ai Cập, người Ma-rốc (Maroc)... (dù ngay mỗi nước vốn đã có nhiều nhân tộc khác nhau), tất thảy chỉ còn khác nhau ngôn ngữ và màu da! - Anh Mai Tự ngơ ngác với ý nghĩ.
Anh Mai Tự ghé vào một nhà bạn thân, đón con trai về căn phòng gia đình anh đã thuê để ở mấy năm nay. Bất giác, lòng anh chùng xuống, thương nhớ vợ lạ lùng. Căn bệnh ung thư đã giết chết chị Bến Mai khi còn quá trẻ. Nhưng nếu không bị bệnh, chị ấy còn sống, chắc họ đã li dị nhau từ lâu! Thường thì không chịu nổi tính khí vợ, sao khi vợ bệnh rồi mất, anh vẫn ngậm ngùi thương nhớ. Anh cũng tự xấu hổ khi vừa nhớ vợ vừa nhớ Song Mây!
Mở cửa phòng thuê, anh và con trai bước vào. Nỗi hoang vắng ập vào ngực họ. Hai cha con cùng có cảm giác nghẹn ngào.



35



Nắng trưa chói rực ngoài sân. Tấm màn xanh ở cửa sổ sáng dịu, khẽ lay động vì gió từ quạt máy. Tiếng thơ trong căn phòng nhỏ, sao nghe xa xăm, mênh mang:

THĂM THẲM GIẾNG THI CA

tôi nối triệu câu thơ Hà Nội
tự nghìn xưa
thả xuống lòng giếng nào rất tình và tứ
tiếng gàu va lanh canh
vào gạch cổ Bát Tràng
phấp phỏng hơn hai mươi năm,
mộng mơ không chịu cũ

sẽ đầy gàu ca dao sương mù huyền sử
pha trà cùng bút lửa Thơ Thần,
đọc mộng Ỷ Lan
đàn trong túp lều
phong phanh Nguyễn Trãi
nhớ Ôn Như Hầu giả điên,
vì bao kẻ sĩ lụi tàn

sẽ nhấp rượu ''Tản Đà''
mê lại chất ngông ngang
(chỉ dám giống thiên tài
từng si cô hàng sách!)
nâng niu lá cờ đào
(Ngọc Hân tiếng khóc ướt đầm
- xót cha, thương tiếc chồng,
ngất đau vận nước -)
thoắt như đứa trẻ thập thò
lén ngắm Thạch Lam

tìm Cổ Nguyệt đường
nghe cợt đùa dê cỏn sư gàn
Phùng Quán ở Nghi Tàm,
cho tôi đọc vết son xưa,
bên bát chè xanh vầng trăng xưa
không nhỉ
xa xăm chỗ Chế Bồng Hoan
ngó đóa súng hồng?
hỏi năm cửa ô, giọt sương ngân rung
tiếng hồn thi sĩ

thăm những Nàng Hương
men chữ thủ đô ủ sâu mộng mị
tên dân dã quá say, nhưng rượu bây giờ lấy nước đâu đâu
thương gàu tôi bấy nhiêu năm
chưa chạm mạch
ôi ngụm thắm muôn đời tinh túy,
mong được vã lên, vã lên nếp trán tôi
chằng chéo nhăn nhàu
.
Anh Mai Tự nằm nghe băng ngâm thơ, bên cạnh là đứa con trai đang ngon giấc trưa. Những bài viết về Hà Nội và người Hà Nội ở Lâm Đồng, ở thành phố Hồ Chí Minh được diễn ngâm thật ngọt ngào, sâu lắng. Sau cuộc nói chuyện với Hoài Hương và Hoàng vào sáng hôm nay, anh Mai Tự cảm thấy trong tâm hồn mình có những xáo động. Anh nhận rõ hơn, qua chuyện trò, trao đổi, một số vấn đề trong tâm thức đã được mang ra, ngắm nghía, phủi bụi, thậm chí tháo tung ra, như đồ dùng trong nhà lâu ngày không sờ tay đến, chợt có dịp, không thể lười biếng, trễ nãi, xao lãng đươc nữa.
Chiếc máy băng nhạc đặt sát đầu giường đã được chỉnh âm thật nhỏ. Trong căn phòng im vắng, tiếng thơ cơ hồ xuyên suốt, lan tỏa trong tâm hồn anh nhờ những chất giọng nghệ sĩ tuyệt vời. Bất chợt, có tiếng gõ cửa:
- Thầy ơi, có ai gọi điện thoại.
- Cảm ơn nhé. Tôi qua ngay.
Hơi phân vân một chút khi đứng ở cửa phòng đang khóa chốt, anh Mai Tự cũng đành để nguyên bộ bà ba đang mặc để sang nhà bên cạnh, nơi đang là quán cà phê. Đó là nhà một học trò cũ của anh, tốt nghiệp trung học từ mấy năm trước.
- Xin lỗi nhé - anh cười với cô bé áo trắng nay là cô chủ quán ấy, rồi cầm lấy ống nói cầm tay - Thưa, tôi nghe đây... A! Hoài Hương đó sao? Có gì lạ không? Đang ở Sen Trắng à?
Anh Mai Tự đảo mắt nhìn quanh, thấy quán chỉ có vài người khách đang ngồi xa đằng kia, họ lặng lẽ nhìn ra con hẻm ngập nắng trưa. Anh mỉm cười:
- Thôi được. Nhưng sao không trao đổi với Tre Trúc? Trao đổi với tác giả hay hơn chứ... Ồ, cũng được.
Anh Mai Tự ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn nước, nhờ cô học trò cũ pha giúp một li cà phê đá. Bưng tay vào chỗ nói ở ống điện thoại, anh khẽ bảo thêm:
- Thầy chuyện trò hơi lâu với cô bé người Mỹ gốc Việt này, em thông cảm nhé.
Cô học trò cũ cười thật tươi, khẽ dạ, cảm thấy vui mừng có dịp được thầy giáo nhờ đến, cho dù chỉ tạm nhờ điện thoại nhà mình.
Anh Mai Tự hiểu, Hoài Hương và Hoàng có lẽ thấy Tre Trúc nhỏ tuổi hơn mình, lại thường xuyên ở chung tại Sen Trắng, đâm ra bình thường đi, nên không muốn trực tiếp trao đổi chăng. Bụt nhà không thiêng, có lẽ vậy. Anh cũng biết hai bạn trẻ này muốn có cái gì mới hơn, sâu hơn cuốn sách của Tre Trúc. Anh cảm thấy hơi ngại, ngại cả với Tre Trúc, bởi sợ mất lòng cô ấy. Nhưng với ''khách'' đồng bào, nỡ nào từ chối.
Vẫn áp ống điện thoại vào tai, anh Mai Tự nói:
- Thật ra, Hoài Hương à, đó là tuyên ngôn và cương lĩnh quân sự, chính trị, văn hóa của Quang Trung đấy - anh cau mặt - Em định dùng câu nói ấy để phủ nhận cuộc chiến tranh vì mục tiêu văn hóa, một trong những mục tiêu quan trọng, của ông vua vĩ đại ấy sao? Anh nghĩ là em đùa.
- Anh Mai Tự ơi, nếu chiến đấu vì tục để tóc dài, nhuộm răng đen, thì bây giờ hóa ra vô nghĩa. Có mấy ai còn giữ những tục ấy đâu. Đó là những hủ tục. Em chỉ còn thấy trong ảnh nụ cười răng đen, mái tóc búi tó, như ở tấm ảnh của thân sinh bà Lụa Hà chẳng hạn - tiếng Hoài Hương đằng kia dây nói.
- Nhân tộc nào trong cộng đồng nhân loại cũng có những hủ tục. Quy luật tiến hóa mà! Hẳn em chưa biết hết, người Việt - Kinh cũng còn có nhiều hủ tục khác nữa, như bất kì nhân tộc nào trên thế giới. Tiến hóa, còn có nghĩa là phải chấp nhận cách tân, đào thải... Ồ, với ngôn ngữ nói, anh diễn đạt không chính xác rồi. Anh nói rõ, có những tập tục thật sự là hủ tục, dù trong các hủ tục đúng nghĩa ấy vẫn có những ý nghĩa tốt đẹp, tốt đẹp cho đến bây giờ và đến ngàn sau. Tuy nhiên, các nét phong tục như để tóc dài, búi tó, nhuộm răng đen, ăn cau trầu, kể cả vẽ mình, xăm mình khi đánh cá ở thời thượng cổ, không phải là hủ tục. Em có thấy ảnh thân sinh bà Lụa Hà, vậy thử cho anh nhận xét, nụ cười răng đen, tóc búi tó, trông đẹp hay không đẹp?
Hoài Hương im lặng, có lẽ cô suy nghĩ.
- Vâng, đẹp, nhưng là cái đẹp xưa, quá cổ - Hoài Hương nói - Vâng, lẽ ra phải cổ kính một cách hiện đại, mới mẻ hơn - Hoài Hương không phải đang bày tỏ thẩm định. Cô nói lên dự kiến, mơ ước của chính mình! Hoài Hương lại tiếp, sau một thoáng ngập ngừng - Trong ảnh, đó là cô gái Hà Nội thanh lịch ngày xưa. Đúng hơn, cô gái Quảng Trị theo gia đình ra Hà Nội sinh sống, như gia đình nội, ngoại của Thương Hoài... - Hoài Hương đang phân vân, có lẽ chưa thành thực lắm khi nói, bỗng đổi giọng, nói gấp gáp về một tin sốt dẻo - Anh đã đọc báo hôm nay chưa, anh Mai Tự? Báo đăng phóng sự về vụ điều tra, chuẩn bị đưa ông Vũ Hồng Ngà, cả tên Gion lẫn Thủy Lê Thị... ra tòa đấy. Ồ, hóa ra lão Ngà có quê gốc là Quảng Trị. Bà Hồng Ngọc cũng vậy. Cả hai đều có nguyên quán là Quảng Trị. Thế mà cả ông Hương Chữ cũng không rõ đấy, cứ ngỡ lão ta là dân gốc Lai Châu, còn bà Hồng Ngọc là dân gốc Hà Tĩnh. Có điều cả hai không phải là dân tập kết ra Bắc hồi năm tư! Nội, ngoại Thương Hoài ra hai nơi đó làm ăn, rồi lập nghiệp luôn thôi! - giọng Hoài Hương vẫn gấp gáp, sốt dẻo.
Anh Mai Tự hơi ngạc nhiên, rồi chỉ cười cười:
- Vậy sao? Anh chưa kịp đọc báo. Báo chí đôi lúc cũng ''tế nhị'' một cách ... thiếu tin cậy chăng? Nhưng nếu quả thật là thế, cũng chẳng có gì lạ. Đó cũng chuyện thường, như chị Y Sông, bà Hồng Tĩnh (má Hãng), như Hoàng, Hoài Hương và các bạn trẻ ở Sen Trắng vậy mà. Chính anh cũng thế thôi, cũng thuần Kinh, thuần gốc Quảng Trị, mặc dù gốc gác vài chục đời trước lại thuần Hà Tây, chỗ có chùa Tây Phương với các bức tượng La Hán nổi tiếng ấy - anh Mai Tự cười vui - Xa xưa hơn nữa, chúng ta là người Việt - Kinh (từ hàng vạn năm trước, ngôn ngữ gốc duy nhất là tiếng Việt), thuộc cộng đồng Bách Việt, ở tận Quảng Đông, Quảng Tây bên Trung Hoa... Nhưng quê hương là giọng nói, Hoài Hương ạ. Anh tạm định nghĩa như thế, bằng ngôn từ thi ca. Tuy vậy, cũng có thể nói là khá khoa học. Nói chính xác, quê hương của mỗi người biểu hiện ở giọng nói hồn nhiên, tự nhiên nhất của người ấy. Và để định nghĩa đó khoa học hơn, cần phải kết hợp xác định một vài yếu tố khác nữa.
Hoài Hương đã trở lại với vẻ suy tưởng:
- Anh Mai Tự à, xin lỗi anh nhé, xin vui lòng quên lão Vũ Hồng Ngà gian ác, quỷ quyệt, tay sai ấy đi. Trở lại chuyện đang dở dang hồi nãy, anh nhé. Chúng ta có bảo thủ không anh?
- Không. Không bảo thủ nhưng phải biết bảo lưu, phổ biến sâu rộng những mã văn hóa tổ và tiên mấy nghìn năm truyền lại. Đó là mã di truyền huyết thống về văn hóa. Em có thể giải mã được giúp anh không, những tục lệ phổ biến từ Bắc đến Nam, bốn nghìn năm nay ấy? - anh Mai Tự tế nhị gợi ý.
- Em xin nhờ anh đấy... - Hoài Hương lúng túng.
- Qua điện thoại, anh nói gọn thôi. Người Việt xưa, có quan niệm bảo trọng thân thể do cha mẹ sinh ra. Họ không dám cắt tóc, vì tóc cũng là tinh huyết cha mẹ ban cho. Với râu, cũng vậy. Nhuộm răng để giữ gìn răng, cũng thế. ''Cái răng, cái tóc là gốc con người'', tục ngữ có câu như vậy đó. Đó là biểu hiện của chữ hiếu đối với cha mẹ, ông bà. Đó còn là một cách tự bảo toàn giống nòi Tiên Rồng, chống lại sự đồng hóa của Tàu (Tàu bị Mãn Thanh cai trị, bấy giờ vẫn còn cỗ lỗ lắm). Như vậy, tục ấy là biểu hiện của chữ hiếu rộng hơn: hiếu với giống nòi nhân tộc và dân tộc. Tục nhuộm răng đen đi đôi với tục ăn cau trầu. Ăn cau trầu là nghĩa, là tình, là luân lí. Từ chuyện vợ chồng, anh em, mở ra với nghĩa rộng hơn, là tình nghĩa nói chung. Người Việt - Kinh rất trọng luân lí, tình nghĩa, hay đúng hơn là tình nghĩa có luân lí. Và ''miếng trầu là đầu câu chuyện''...
- Như vậy, còn... - Hoài Hương lại hỏi -
tay bưng dĩa muối chấm gừng
gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau...

- Gừng và muối là nồng mặn, thủy chung trong hôn nhân. Đó là một biểu tượng kép, như trầu cau.
- Vôi nữa chứ?
- Ồ, còn thuốc lào, vỏ cây dà nữa, mới đủ miếng trầu thơm. Nhưng hai thứ anh vừa kể thêm, chỉ là thức phụ gia, không mang ý nghĩa ẩn dụ nào. Cần lưu ý, cũng như rượu nho, bánh thánh của Thiên Chúa giáo, và của Tin Lành nữa, ấy là mình và máu Chúa Cứu thế Giê-su. Ngày xưa, có những thông điệp luân lí, triết lí, giáo điều cần bảo lưu và truyền bá qua miếng ăn, miếng uống hàng ngày. Cái ăn là cái bức thiết, cái tạo ra khoái cảm khứu giác, vị giác, đồng thời là cái gây ra nỗi giày vò, mặc cảm tội ác nhất. Mặt khác, rượu và cau trầu là chất gây nghiện. Nhu cầu giả ấy vẫn khó thiếu. Chất gây nghiện đem đến niềm cởi mở... Như bếp Táo Quân, như bánh mì, rượu và cau trầu cũng là hai cái cần thiết hàng ngày! Bảo lưu, truyền bá và giáo dục qua cái ăn, cái uống, bằng cách gán ý, tạo nghĩa ẩn dụ là hữu hiệu nhất. Cần lưu ý, ăn và uống cái biểu đạt chứ không phải cái được biểu đạt. Người xưa, có ý thức tỉnh táo, phân biệt rõ ''như là'' và ''là'' (sát nghĩa) trong phép so sánh, cái ẩn dụ và cái được ẩn dụ. Không phải khuyến khích ăn thịt người, uống máu người đâu! Loài người khập khiễng trong nếp tư duy ví von, biểu tượng hóa, vật tổ hóa, rồi kẹt trong cái ví von, cái biểu tượng, cái vật tổ ấy. Đấy là anh nói qua trường hợp khác. Con chó là biểu tượng ngu trung, ngựa là biểu tượng người bạn đường, chim bồ câu là người đưa thư, là hòa bình... Con cò là người phụ nữ nông thôn, cũng tương tự như con cá bống... Nhưng lại thịt hết! (Những chữ ''là'' anh dùng lại không sát nghĩa, hay với nghĩa thứ ba, nghĩa ở giữa ''như là'' và ''là'')... Loài người rất tỉnh táo mặc dù rất thơ ca. Ồ, còn nữa. Khi vua Quang Trung nói: ''Đánh cho để dài tóc, đánh cho để răng đen, đánh cho sử tri Nam quốc sơn hà chi hữu chủ'', ngoài việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, hiểu với ý nghĩa bảo vệ cái Hiếu, cái Nghĩa trong các mã văn hóa ''búi tó, ăn trầu, nhuộm răng'' ấy, ông vua Tây Sơn, Bình Định này còn nêu lên tư tưởng lớn của một nhà văn hóa sáng suốt, một thiên tài quân sự, chính trị lớn. Đó là ý thức sử tri. ''Sử tri'' là lịch sử biết, là hậu thế biết. Với ý thức sử tri ấy, mở rộng ý nghĩa, tác dụng ra, không ai dám làm quấy, làm ác, ít ra cũng bớt đi tà tâm. Đặc biệt, các nhà chính trị, hẳn ý thức rõ ''sử tri''. Thế mà... Và mỗi công dân, là một thành tố của lịch sử dân tộc, nhân loại, đành xao lãng chăng ý thức sử tri ấy!
- Còn tục vẽ mình ngày xưa?
- Có thể gọi là tục, nhưng thật ra chỉ là thủ thuật để đánh cá, nhất là khi phải lặn sâu xuống sông, xuống biển thôi. ''Dưới nước vẽ mình, vua dạy bảo, đến cả giao long cũng phải chừa''. Tuy vậy, tục ấy, gồm cả vẽ hai con mắt ở đầu mũi thuyền, nói lên một sự thích ứng với môi trường lao động, ý thức chế ngự thiên nhiên. Tục ấy vẫn còn ở các chiến sĩ binh chủng đặc công: bôi mình, lẫn vào bóng đêm, và trong ngư nghiệp, nghề đi sông, đi biển, vẫn còn hình vẽ hai con mắt đầu các mũi thuyền của người Việt đánh cá, chở hàng hóa... Ồ, chuyện trò thế là quá lâu rồi nhỉ? Chỉ cần nhớ một cách khái quát: Cái biểu hiện có thể biến dịch bằng sự cách tân, thay thế, nhưng cái được biểu hiện phải được bảo lưu, trau dồi, truyền bá đến nghìn triệu đời sau và mãi mãi.
- Trong các ý nghĩa của mã văn hóa Việt - Kinh, còn có sự kín đáo trong trang phục nữa chứ anh? - Hoài Hương cười khẽ, tiếng cười có chút thẹn thùng, gượng gạo.
- Đúng. Nghĩa ấy trong chiếc yếm ngực, áo tứ thân, áo dài... Thôi nhé, anh xin lỗi, nói chuyện đã quá lâu rồi. Nói, nói, rồi lại nói mãi thế này thì... Không khéo lại phải đổi tên Mai Tự thành tên ''Mai Nói'' mất. Tự là chữ. Chờ đọc cuốn sách khác của anh nhé. Ồ, phải hiểu tuyên ngôn và cương lĩnh cuộc chiến tranh vĩ đại của Quang Trung với cách hiểu ấy. Cũng phải nhớ giúp nhau điều này nhé - anh dặn Hoài Hương một cách tế nhị.
- Cảm ơn anh Mai Tự - Hoài Hương có vẻ giận dỗi.
Anh Mai Tự mỉm cười, bấm nút tắt ống điện thoại cầm tay. Thì ra, nãy giờ vừa nói chuyện, anh vừa uống sạch li cà phê đá. Những viên đá lạnh trong vắt đang tan trong lớp nước trong veo dưới đáy li.
Cô học trò cũ nhìn thầy giáo Mai Tự, mỉm cười. Sau quầy cà phê, gương mặt sáng lên làn da trắng và ánh mắt đen láy.
Cô bước tới, ngồi ở ghế đối diện với anh.
- Thưa thầy, thầy uống trà đi - cô học trò cũ lại mỉm cười - Em vẫn còn nhớ những bài ca dao thầy dạy hồi năm lớp mười, trong đó có những câu thầy bình hay đến nỗi bọn em nổi da gà. Em nhớ cả bài ''Mười thương'', bài ''Răng đen ai nhuộm cho mình'' - cô gái cười khúc khích, thú vị với hồi ức.
Anh Mai Tự cảm động, mỉm cười rót nước trà vào li.
- Cảm ơn em. Liệu có còn thuộc không đấy? Hai bài em vừa nhắc, thầy chỉ đọc dẫn chứng khi giảng phần khái quát thôi mà, đâu có giảng văn hay bình chú.
- Dạ. Nhưng ca dao dễ thuộc lắm, câu nào thích, nghe hoặc đọc một lần đúng là nhớ một đời. Em vẫn buồn cười cái anh chàng đa tình nhưng hơi tính toán: ''Năm quan mua lấy miệng cười, mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen''. Năm quan lộ phí đi lễ hội, hay năm quan hoa trái gì đó để mua lòng người đẹp, lại đẹp tuyệt vời với nét đẹp hồi xưa ấy, ''răng nhánh hạt huyền kém thua'', thế mà nói tuột ra là ''năm quan'' với lại ''mười quan'', nghe rất ư chi là ''con buôn phe phẩy''!
- Em vẫn dùng cụm từ ''con buôn phe phẩy'' à? Thời này... - anh Mai Tự hơi lấp lửng - Ờ, chắc hai từ ''mua lòng'' cũng thành ''vốn cổ'' luôn rồi đó, có vẻ hối lộ tình cảm quá!
Cô học trò bật cười khẽ, cắn môi, hơi xấu hổ.
- Bây giờ, người ta càng dùng tiền để ''mua'' tất cả!... Sao hồi đó thầy khen, thưa thầy? - cô nói, sau một lúc ngẫm nghĩ.
- Ồ, thì vẫn khen những từ đặc tả anh chàng làm nghề thương nghiệp đa tình ấy chứ. Dùng từ vậy mới đặc tả được tấm tình của anh thương nghiệp! - anh Mai Tự cười - Thôi, nhưng thầy trò vẫn sòng phẳng đấy nhé. Cho thầy trả tiền li cà phê và cuộc điện.
- Thôi, thầy ơi! Có bao giờ em lấy tiền điện thoại đâu thầy! - cô học trò cũ nhăn mặt - Thầy...
Anh Mai Tự cảm thấy mình trót bất nhã:
- Thầy xin lỗi nghe. Nhưng, để thầy bớt áy náy mà.
Hai thầy trò cứ nhùng nhằng mãi, cuối cùng, anh Mai Tự mới cảm thấy yên tâm sau khi trả được tiền.
- Vậy lần sau mới còn dám nhờ điện thoại nhà em chứ. Cảm ơn em nhé.
Anh Mai Tự về lại căn phòng thuê.
Đầu giường, băng ngâm thơ đã tự động phát mặt kia. Đứa con trai của anh vẫn ngủ ngon lành.
Anh ngồi xuống ghế, phía sau bàn viết, giở sổ ghi chép, mở nắp bút, ghi vội mấy ý cần nhớ, như thể viết điện tín:
* Phải sáng tạo những mã văn hóa để cách tân, thay thế mã cổ? Những biểu trưng? Huy hiệu? Hình tượng văn học nghệ thuật? ... trong lễ hội, trong sinh hoạt hàng ngày?...
* Răng đen, xét về khía cạnh khác, còn là cách trang điểm
của phụ nữ ngày xưa... Tô quầng và hốc mắt xanh, môi đỏ; móng tay để dài, tô sơn tím hoặc hồng, đủ các màu, rắc nhũ óng ánh; xăm lông mày, mí mắt... lại là cách trang điểm ngày nay.
* Đen và trắng. Nhan sắc da đen. Quan niệm thẩm mĩ có tính lịch sử - cụ thể. Phải giáo dục và tự giáo dục về quan niệm thẩm mĩ. Quan niệm thẩm mĩ thường thay đổi và có thể thay đổi. Tính nhân loại, tính nhân bản, tính khoa học về thẩm mĩ. Thẩm mĩ thiên lệch... Nhan sắc châu Phi da đen cần được đề cao...
* Trống đồng và hình tượng trung tâm của trống đồng: Mặt trời. Với các cuộc khai quật khảo cổ học hiện nay, chưa hề thấy có chiếc trống đồng nào ở Nhật Bản... Mặt trời trên quốc kì Nhật Bản vốn là hình tượng biểu trưng về Thái dương Thần nữ (như Rồng Tiên, Chim Lạc của người Việt Nam). Khác hẳn nhau, vẫn có giao điểm văn hóa... Trống đồng Việt, niềm tự hào dân tộc!
* Nếp ăn của người Việt và một phần lớn châu Á: quây quần, san sẻ, không chia phần riêng rẽ...
* Nếp ở, không ngăn nhiều phòng: thể hiện tính quang minh chính đại, không riêng tư kiểu cá nhân chủ nghĩa…

Anh Mai Tự lặng lẽ ghi vội những dòng chữ cần bổ sung vào dàn ý chi tiết của cuốn sách mới, đang dự định viết.
Tiếng thơ vẫn vang khẽ, ngọt ngào, nổi sáng trên nền tiếng sáo trúc, tiếng đàn tranh, đàn bầu trong căn phòng nhỏ. Vẫn những bài thơ viết về Hà Nội, về Vinh và quê nhà Quảng Trị của bạn anh Cơ Dân...
* Đàn ông Việt - Kinh ngày xưa cũng nhuộm răng đen, ăn cau trầu, để tóc dài, búi tó, lại chừa râu... Ngày nay, râu cạo nhẵn... Cuộc vận động chống sưu thuế, cắt tóc ngắn (kinh tế - chính trị - văn hóa) của sĩ phu Quảng Nam hồi đầu thế kỉ...
Anh Mai Tự nhận thấy chưa có ý tưởng nào mới mẻ. Anh nhíu mày, thở dài. Anh lại tròn mắt, vội cúi xuống ghi nhanh:
* Trẻ em mê say truyện loài vật đồng thời mê say ăn thịt loài vật! Bi kịch loài người!
* Chủ nghĩa đồng hương là một biểu hiện tâm lí của cư dân thuộc nền văn minh lúa nước? Mặt trái và mặt phải. Mặt trái đáng buồn của chủ nghĩa cục bộ, bản vị, thân tộc, đồng hương...
* Mái tóc thề thanh nữ cũng là một mã văn hóa.
* ''Độc lập, tự do, dân chủ, lao động sáng tạo là những nhu cầu có tính người cao nhất'' (Tre Trúc).
* Răng bịt vàng, cách trang điểm cách đây chưa lâu!

Tiếng ngâm thơ vẫn mượt mà làn điệu từ máy băng nhạc:

VIẾT SAU TẤM ẢNH HỒ GƯƠM

tựa lưng vào dĩ vãng đời mình
mây trắng
tựa lưng vào Tháp Bút nghìn năm
vút thẳng
em rất đỗi quê nhà
và vô cùng Hà Nội
mai nay

bóng đỉnh tháp nghiêng vào Đài Nghiên
đọng nắng
viết bài thơ hoa lên mùa non cỏ cây
viết vào tương lai
và vô cùng trang thơ em
sâu lắng

xin chấm vào nửa trái tim tôi buốt đắng
bằng ngón tay ngọn bút thon dài
viết vào từng gợn sóng khói bay
và vô cùng trưa gió đang say
dòng chữ màu áo em
đỏ thắm.


THOÁNG CHIỀU HÔM ĐƯỜNG THANH NIÊN

gần hai mươi hai năm
chiều đầu tiên, Hà Nội!
rét tháng giêng sương khói
ngân nhòa chuông thu không

tiếng sáo nào mênh mông
Thanh Hiên trải trắng lòng?
mùa Xuân Hương, Trúc Bạch
trăng nhà xưa, gò hoang?

vết móng bò cội lan
hóa bướm bay thành lá
pha tím dâu - tháp lạ -
bông hoàng hậu Tấm ngời?

cô bán chiếu gon ơi
xanh xưa, mười bảy tuổi
tình hoa râm vọng nuối
nọc ngọt tim người hùng? (28)

tiếng chuông như kiếm vung
chùa thành đồn Giữ Nước
trong cung, sau và trước
tham si, điệp và trùng

dấu hỏi quyện chập chùng
Lê Quan Âm giam đói...
công nên thù, Ức Trai!...
triều, Tố Như khó nói...

Chiêu Lì thầm gọi ai
trăng trời vỡ, trăng nước
vỡ. Cuồng trung, thở dài
chuếnh choáng, dốc cạn chai

thương, mừng, len u hoài
hồn kinh đô vời vợi
sử, không là người dưng
máu cội Hồng bổi hổi

lắng đêm. Bước ngập ngừng
buốt gió, chẳng quay lưng
Hồ Tây ơi, thế đó
em đẹp đến lạ lùng

khuya, huyền thoại mung lung
quá vô cùng Hà Nội
Nghìn Xưa trong tôi hỡi
mới thoáng gặp. Rưng rưng. (28)

Anh Mai Tự ghi tiếp:
* Cuộc li thân của Lạc Long Quân (Rồng - Biển) và Âu Cơ (Tiên - Núi) thực chất là cuộc li thân vì sự khác biệt văn hóa giữa các bộ tộc, vì sự trường tồn của mỗi bộ tộc. Kết hôn rồi li thân. Chia cách nhưng vẫn đoàn kết (bọc hồng trăm trứng; Hùng: Chim [Lạc] trống). Đó là cuộc li thân, vì khác biệt văn hóa, diễn ra lần cuối cùng trong lịch sử dân tộc, cách đây đã bốn nghìn năm. Từ đấy, mãi về sau, dân tộc Việt Nam gồm năm mươi ba nhân tộc là một khối thống nhất trong tình đồng bào, máu của máu, thịt của thịt, hoàn toàn xóa tan sự cách biệt trầm trọng về văn hóa...
Anh Mai Tự quay mặt lại, mỉm cười thấy con trai đã thức dậy từ bao giờ, đang mê mải với đồ chơi lắp ráp kĩ thuật cơ khí.



36



Hai chiếc xe rời khỏi cổng Sen Trắng.
Hôm nay, ông Hương Chữ, bà Lụa Hà tổ chức, mời những người thân quen lẫn trọ học ở Sen Trắng một chuyến đi chơi ngoài trời. Ông Hương Chữ vui mừng khi thấy các sinh viên hầu hết đã tốt nghiệp. Còn Hoài Hương và Hoàng phải học thêm hai năm nữa. Hai Việt kiều Mỹ này cũng đã làm lễ thành hôn, thuê nhà riêng để chung sống hơn một tháng nay. Đây là cuộc đi chơi để chúc mừng nhau, cũng để các sinh viên chia tay nhau sau bốn niên học, rồi khác lối vào đời trên năm ngả đường lớn.
Trên xe, có cả Nghị từ xí nghiệp cơ khí ở Thủ Đức về, có cảanh Mai Tự với con trai sáu tuổi, có cả ông tiến sĩ (trước đây còn gọi là phó tiến sĩ), chồng chưa cưới của Lúa Ngọc, có cả Phan Kết Đoàn, bạn của anh Cơ Dân. Anh Đoàn này sau một thời gian mấy năm trời "ở ẩn", cũng đã trở lại với Sen Trắng ở chuyến đi chơi này. Hoá ra Phan Kết Đoàn không cóc cáy chút nào như ông Hương Chữ hay mắng đùa. Anh Đoàn cũng không phải là con cóc như anh hay tự trào. Chồng chưa cưới của Lúa Ngọc cũng trạc tuổi anh, ngoài bốn mươi, tên là Mặc Chi. Anh Mặc Chi vào Miền Nam công tác như một chuyên gia, và là một chuyên gia giỏi. Nhưng Lúa Ngọc có hồi vẫn không cảm nổi. Chả là bấy giờ trên đời này chỉ mỗi một mình Trần Ngát Gió mới đích thực là người, trong mắt nhìn của cô gái si tình Lúa Ngọc! Rất dễ thương, tuy tầm thước, anh Mặc Chi vẫn chỉ là con khỉ quắt queo, héo hắt của Lúa Ngọc hồi ấy! Giờ đây, ngồi khác xe với Gió, Lúa Ngọc quả là đang hạnh phúc bên cạnh ông tiến sĩ, cứ như là cổ tích. Cũng không phải như cổ tích, trong nhân vật Sọ Dừa dị dạng có một trạng nguyên tuấn tú, cái xấu xí bên ngoài chứa đựng cái tốt đẹp bên trong, ở đây cả bên ngoài lẫn bên trong người đàn ông Thái Nguyên, sinh trưởng gần quê của Vũ Hồng Ngà, đều khiến người mới gặp cảm tình ngay. Và với bằng cấp tiến sĩ, học vị cao quý ấy, cộng với công trình nghiên cứu khoa học rất thiên tài của anh, cái chính là công trình ấy, hầu như mọi người trong chuyến đi chơi này đều thấy anh cao hơn hẳn, cao hơn những người cao nhất đến hai cái đầu, hai tầm trí tuệ! Lúc này, ''con cóc'' và Sọ Dừa đang chuyện trò làm quen nhau. Bên cạnh họ, là vợ chồng Vũ Thương Hoài - Đào Hải, ngồi kề vợ chồng Triệu Nắng Thắp - Lâm Sông Xanh. Thắp và Thương Hoài đã quên lâu rồi buổi sáng nào ở cơ sở Sen Đỏ, họ đã chát chúa với nhau, giờ đang bàn bạc chuyện gì đó. Dẫu sao, Thương Hoài cũng hốc hác hẳn đi, vì vẫn còn lo âu cho bố, hiện đang bị tạm giam sau lần tự thú ở cơ quan công an. Cũng như bà Lụa Hà, bà vừa nhục nhã vừa đau xót, kiên quyết không để tang mặc dù tang còn mới, chẳng muốn bước chân ra khỏi nhà,Thương Hoài thật lòng cũng chẳng muốn có mặt trong chuyến đi chơi để chia tay với các sinh viên đã thành cử nhân, kĩ sư này.
Nhìn chiếc xe của nhóm sinh viên phía trước, Lúa Ngọc vừa hạnh phúc vừa bẽn lẽn. Cô vẫn ngại giáp mặt với Gió, vì nỗi say đắm cũ, nỗi say đắm đến lúc này và mãi về sau, cô tự biết sẽ không vơi đi chút nào trong tim mình! Trên chiếc xe đang chạy phía trước ấy, Lúa Ngọc biết Song Mây cũng đang lặng lẽ, thu mình trong hi vọng, ngượng ngùng. Song Mây với anh Mai Tự còn giữ kẽ và giữ lễ, mỗi người đi một xe, nhưng cô biết, họ sẽ chẳng xa nhau được nữa.
Hai chiếc xe hướng về phía quảng trường "Cái Chuông Rạn", đang lướt chậm qua bao con phố dài.
Xe dừng lại, Hãng mở cửa, bồng Cây Bàng bước xuống. Sau anh là Tre Trúc. Tiếp đến, ông bà Hương Chữ - Lụa Hà, gia đình anh Cơ Dân... Hai mươi lăm người lớn, gồm cả hai anh lái xe, cùng bốn trẻ nhỏ băng qua đường, bước vào bồn tâm tròn giữa ngã năm. Họ đứng dưới tượng đài "Cái Chuông Rạn" do Hãng thiết kế và thi công. Đó là tượng toàn thân nhà báo, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, đứng đối diện với một tượng toàn thân khác - hình tượng người công nhân - trên bệ cao cỡ hai mét. Trên khối chữ nhật làm bệ đứng ấy, Nguyễn An Ninh cầm một cây bút lớn, như đang vác cây bút ấy lên vai. Một cây chổi sể, quét các thứ rác rưởi, cũng lớn, được vác trên vai người thợ trí thức. Hai tay kia của hai bức tượng được cách điệu, vươn rất dài và cao, cùng nâng một "Cái Chuông Rạn" rất lớn. Trong hai bàn tay nâng chuông, siết chặt vào nhau là một đóa sen nở hé ra mười cánh. Mười cánh hoa với mười ngón tay ấy khi cùng nâng chuôi chuông, cùng siết vào nhau, đã hóa thành đóa sen, cao vút, thắm đỏ. Trên quả địa cầu đỏ làm gương sen giữa đóa sen, đỏ thắm hai cuốn sách. Dăm dải âm thanh từ chuông lan xuống mặt trống đồng giữa hai tượng người, tỏa xuống mặt đất. Những dải âm thanh ấy được hình tượng hóa cụ thể như các dải vải, các dải vải vừa dịu dàng, vừa sắc bén, chém xuống những "con đỉa hai vòi". Những dải âm thanh bằng bê tông ấy lại như cắm rễ vào vuông cỏ xanh. Toàn tượng đài với các đường nét kỉ hà, nom vừa gân guốc vừa mềm mại, vừa vững chãi vừa hoành tráng. Tất cả bằng bê tông ốp đá hoa cương nhiều màu như màu thật: màu xanh đậm áo quần công nhân, màu áo sơ mi trắng, màu vàng đồng của chuông, của trống đồng Đông Sơn, và màu đỏ của sen. Các màu đá hoa cương quý hiếm, có lẽ đã được gia công bằng các chất khác.
Mọi người đều sững sờ chiêm ngưỡng, tuy hầu hết đều đã có lần ngắm. Rồi họ đứng sát vào nhau dưới chân tượng đài. Anh Phan Kết Đoàn tách ra, đứng trước họ để bấm máy thu băng hình. Sau đó, anh Cơ Dân ra thay anh Đoàn để ghi hình anh Đoàn vào với mọi người. Những nụ cười tươi tắn, quên hết nỗi riêng, dưới ánh nắng ban mai giữa tháng tám.
Cây Bàng chỉ vào tượng đài, nói:
- Đẹp! Đẹp quá!
Tre Trúc véo khẽ má con trai:
- Tượng đài ba làm đó!
Cây Bàng cười thích chí. Anh Mặc Chi nói với Hãng:
- Sao các quận của thành phố Bác Hồ không thay các con số thứ tự bằng tên danh nhân nhỉ! Quận này lẽ ra phải là quận Nguyễn An Ninh. Hôm nay là ngày mất, cũng là kỉ niệm lần thứ một trăm năm sinh của Nguyễn An Ninh, phải không anh Hãng?
Hãng gật đầu, bâng khuâng, ngẩng mặt lên ngắm tượng đài anh đã hân hoan, khổ sở và cay đắng để thi công, sau mấy tháng trời nghiền ngẫm, thao thức sáng tạo, rồi chấp nhận lỗ lã khi đấu thầu... Theo mạch suy tưởng, Hãng bất giác cảm thấy vừa đáng kiếp, vừa chua xót cho hai cha con lão Nguyễn Hà Đông, Nguyễn Đồng Triệu, hai kẻ đã bị tử hình ở trường xử bắn Thủ Đức, cách đây mấy tháng... Hãng cúi đầu trước tượng đài.
- "Cái Chuông Rạn''! Đại nhân, đại trí, đại dũng, Nguyễn An Ninh vẫn khiêm tốn, tự trào trong sứ mệnh đánh thức nhân dân! - anh Mặc Chi lại nói với giọng thán phục, đầy xúc động.
Lát sau, anh lại hỏi khẽ:
- Anh Hãng này, đóa sen đỏ được nâng cao kia có phải là thiền không anh?
Hãng đang trầm ngâm, hơi ngạc nhiên:
- Ai bảo là thiền vậy dượng?
- Lúa Ngọc và Vũ Thương Hoài - Đào Hải.
- Ồ, nhầm rồi. Sen Đỏ chỉ là biểu tượng của văn hóa Việt Nam, khởi từ hình tượng Sen Trắng trong bài ca dao của nông dân xa xưa:
trong đầm gì đẹp bằng sen
lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
nhụy vàng bông trắng lá xanh
gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Sen rất dân dã vẫn rất cao sang. Đó là biểu tượng về những con người tốt đẹp từ bên trong tâm hồn, tư tưởng đến bên ngoài tư cách, hành vi... Sen mọc từ bùn nhưng sen vẫn là sen thơm ngát. Đó là mẫu mực để mọi người hướng tới. Biệt thự Sen Trắng không phải là sen trắng, mà chỉ là tâm nguyện hướng tới sen trắng. Cơ sở vật liệu xây dựng và thiết kế kiến trúc có tên là Sen Đỏ không phải là sen đỏ, mà chỉ là tâm nguyện vươn tới tư tưởng, phẩm cách của sen đỏ giữa bùn lầy kinh tế thị trường - Hãng mỉm cười - Mở rộng ý nghĩa của hình tượng Sen Đỏ ở sân biệt thự Sen Trắng, ở cụm tượng đài "Cái Chuông Rạn" này, xin hiểu Sen Đỏ là bản sắc văn hoá Việt Nam hiện đại đặt trên nền tảng cơ bản nhất, đó là nền văn hóa dân gian đã được đãi lọc, cách tân của năm mươi ba nhân tộc đồng bào. Trong các nguồn làm nên bản sắc Việt Nam, có sự đóng góp của Phật giáo Việt Nam suốt hơn hai ngàn năm nay. Đó là một Phật giáo đã khúc xạ qua chủ nghĩa yêu nước và Đạo Hiếu Nghĩa truyền thống, một Phật giáo dấn thân, nhập thế, mà đỉnh cao là thời Lý - Trần, lãnh đạo cả dân tộc kháng chiến và chiến thắng quân Tống, lại ba lần đánh bại một đế quốc vô địch trên thế giới lúc bấy giờ là Nguyên - Mông... Nhưng Phật giáo chỉ là một nguồn phụ trong các nguồn phụ, như Lão giáo, Khổng giáo... Nguồn mạch chính của văn hóa dân tộc vẫn là Đạo Hiếu Nghĩa của tuyệt đại đa số người Việt Nam, gồm năm mươi ba nhân tộc, từ nghìn xưa đến nay, là chủ nghĩa yêu nước đã đậm nét anh hùng từ thời vua Hùng, từ Thánh Gióng đến bây giờ , là lịch sử nhân dân dựng nước và giữ nước suốt bốn ngàn năm, là ý thức sử tri, là phong tục thuần hậu lại được cách tân. Sen Đỏ là thế, và đó là chủ nghĩa Hồ Chí Minh. Sen Đỏ, đó là chủ nghĩa Việt Nam (29) - Hãng mỉm cười, ngước nhìn tượng đài - Xin lưu ý hai cuốn sách như đôi chim bồ câu thắm đỏ trên gương Sen Đỏ kia nữa. Đó là sách hiếu nghĩa với nhân loại và với dân tộc về mọi lĩnh vực, đặc biệt là khoa học tự nhiên, công nghệ. Ở nghĩa khác, đó còn là vô thức trần gian, sử biên niên vô ngôn hiện thực giữa đời. Không có gì đã từng có mà mất đi cả, ngay từng ý nghĩ sâu kín, bí mật nhất, vì sẽ tồn tại ở một dạng khác, với sự biến thiên, chuyển hóa. Hẳn anh tin có vô thức cộng đồng, từ cộng đồng gia đình, xóm, thôn, làng, xã (làng là đơn vị cơ bản rất Việt Nam) đến cộng đồng dân tộc cả nước, cộng đồng nhân loại cả thế giới? Tất cả đều được lưu trữ trong vô thức cộng đồng (bao gồm cả vô thức tập thể).
Anh Mặc Chi ngẫm nghĩ, gật đầu. Anh lại nhìn Hãng:
- Tôi thấy anh Hãng vừa đam mê kiến trúc, vừa đam mê cả bộ môn nghệ thuật tạo hình như điêu khắc, dựng tượng đài... Thật ra, đó là một, nhưng vẫn là hai. Anh có nghĩ rằng chùa Một Cột ở Hà Nội là cả một kết hợp hài hòa hai bộ môn ấy không? Chắc chắn anh đã nghĩ sâu về chùa Một Cột.
- Đó là tác phẩm khởi từ quan niệm kiến trúc - tạo hình. Có người gọi là kiến trúc phỏng sinh (30). Chùa Một Cột là kiến trúc phỏng theo hình dáng một búp hoa sen hay một búp hoa súng trên hồ nước. Kiến trúc tạo hình có nghĩa rộng hơn, vì có loại kiến trúc theo hình dáng lập thể, hình dáng công nghiệp... Đó là kiến thức nhập môn thôi - Hãng nhìn xuống những luống hoa nở thắm dưới chân tượng đài - Chùa Một Cột nhỏ bé, khiêm tốn nhưng rất độc đáo, có ý nghĩa nghệ thuật lớn lao, tầm cỡ vĩ đại - Hãng nhìn anh Mặc Chi - Kiến trúc có thể là bộ môn nghệ thuật của văn nghệ, nếu kiến trúc vừa thể hiện được tư tưởng, vừa thể hiện được tình cảm con người. Thơ, văn, nhạc, họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, sân khấu, điện ảnh, múa là văn hóa, nhưng lại là những nghệ thuật đích thực, vì chủ yếu đi vào tình cảm, tâm trạng con người. Kiến trúc không thể hiện tình cảm, tâm trạng của tác giả kiến trúc, không tác động được vào tình cảm, tâm trạng người ở, người ngắm thì không phải là nghệ thuật, hiểu với nghĩa hẹp là văn nghệ. ''Nghệ thuật'' nấu ăn, ''nghệ thuật'' may mặc hiện tại chưa thể là văn nghệ - Hãng ngập ngừng - Tư tưởng trong văn nghệ cũng phải rất trữ tình, rất hình tượng. Dượng Mặc Chi đồng ý không? Tôi đang cố gắng đem nghệ thuật điêu khắc, hội họa, phối trí đồ vật vào kiến trúc, và bản thân kiến trúc cũng phải có giá trị tạo hình, như chùa Một Cột chẳng hạn. Kiến trúc sư Việt Nam phải đồng thời là những thi sĩ. Chất thơ trong cách sống cũng là dân tộc tính, bên cạnh phẩm chất anh hùng... - anh hùng chiến đấu và anh hùng lao động.
Anh Mặc Chi vẫn tiếp tục chuyện trò với Hãng. Trong khi đó, đằng kia, bên cạnh bạn bè, Đào Điện, cao nghều và trắng xanh, cái trắng xanh của làn da tươi tắn, khỏe mạnh. Đào Điện là người ít nói, sống lặng lẽ nhất trong mười sinh viên trọ học, chợt bảo khẽ:
- Ngã năm, tiếng chuông chống thực dân, đế quốc! Đây là bài thơ hòa bình bằng nghệ thuật tạo hình đấy nhỉ! - Đào Điện quay qua nhìn Trắng Cát, Ô Châu, Trần Ngát Gió - Con đường cá thể, sản xuất nhỏ và con đường hợp tác xã, cũng rộn rịp người xe, phải không? - anh lại cười tủm tỉm - Có ai về Phan Thiết sửa chữa, chế tạo ngư cụ, chế biến nước mắm cùng tôi không?
Mấy sinh viên bây giờ đã là kĩ sư, cử nhân mỉm cười. Gió đáp sau những lời hứng khởi của Đào Điện:
- Ô Châu! Ô Châu sẽ lấy cao học sử về lịch sử nước mắm, thứ nước chấm quốc hồn quốc túy và rất Đông Nam Á này đấy!
- Hoan hô cô ''thạc sĩ nước mắm'' tương lai!
Ô Châu bẽn lẽn, nhìn Nghị, người mới reo lên đùa cô. Ô Châu thành thật:
- Nhưng Ô Châu không có vốn để kinh doanh và nghiên cứu. Mọi việc khởi đầu từ tiền vốn!
- Vốn chất xám! Đó không chỉ là vốn mà còn là tài nguyên của đất nước. Ô Châu phải làm sao trong món nước mắm cũng phải có chất sử học. Khoa học tự nhiên, công nghệ phải gắn bó với khoa học xã hội, nhân văn chứ! - Nghị cười, với giọng điệu hơi khoa trương, nhưng cũng rất chân thành.
- Tiền vốn ban đầu cũng ít thôi. Phải đi từng bước. Phải sản xuất từ nhỏ đến lớn. Ước chi chúng mình được thuận lợi nhỉ! - Gió lại nói.
- Chịu khó thì không ai bằng Trắng Cát với Trần Ngát Gió đâu! - Ô Châu lém lỉnh trả miếng, rồi cười và lại nói - Làm gì kiếm sống cũng được. Có thể mình thua thiên hạ mọi mặt, chỉ hơn cái đầu, cái khoa bảng là tốt rồi!
Những tiếng cười giòn tan, không thể không có chút tự hào. Tiếng cười của Gió sớm tắt nhất, bởi anh cố đùa thế thôi. Tận đáy lòng anh, Gió không thể không bâng khuâng buồn, hơi chua xót, hối tiếc. Anh biết mình đã mất hẳn Lúa Ngọc! Anh cũng thấy không thể không mừng cho hạnh phúc của cô gái đã một thời yêu anh, và anh nào phải không yêu!
Mọi người lại băng qua đường. Trước khi lên xe, Hãng bồng Cây Bàng, áp lưng con vào vai kề bên Tre Trúc, ngắm nhìn cụm tượng đài, cười lưu luyến. Anh Phan Kết Đoàn mỉm cười, bất ngờ thu hình họ vào ống kính. Ống kính anh Đoàn đặc tả nụ cười rạng rỡ, hồn nhiên của Cây Bàng, rồi lại ghi toàn thân họ một lần nữa. Ống kính lại hướng ra cụm tượng đài, ghi đặc tả đoá sen đỏ thắm. Anh Đoàn nghĩ, anh cũng vừa tạc tượng đài có tên là ''Hạnh Phúc - Sáng Tạo''.
Hai chiếc xe quay về hướng Đầm Sen. Cả nhà Sen Trắng và những người thân quen định trải qua một ngày ý nghĩa nhất ở công viên văn hóa Đầm Sen ấy.
Chiếc xe đã lướt đi từ Sen Trắng, công trình kiến trúc tưởng tượng, đến Sen Đỏ, công trình điêu khắc mơ ước, và đang đến với Đầm Sen ngát hương hiện thực.
Lúc ngồi ở ghế đá bên bờ nước ở Đầm Sen, anh Đoàn tình cờ nghe anh Mặc Chi nói chuyện với Tre Trúc. Đang mỉm cười, thả hồn trên mênh mông mặt đầm gợn sóng nắng, anh Đoàn khẽ giật mình...
- Cuốn sách của chị Tre Trúc được dịch và xuất bản ở nước ngoài, thích nhỉ? - anh Mặc Chi nói.
- Đã thấy bản dịch gửi về cho đâu! Có thể ông giáo sư Úc công Hàn kiều Mỹ ấy đùa chơi ấy mà! - giọng Tre Trúc hơi cay đắng, dù sau câu nói là một tiếng cười.
Anh Đoàn, cả anh Mai Tự, đều chưng hửng. Mọi người đứng, ngồi cạnh Tre Trúc đều im lặng.
Anh Đoàn nghĩ, chắc các ngoại kiều ấy gặp trở ngại gì đấy... Anh đặt mắt vào ống ngắm máy quay băng hình, xem lại các đoạn đã quay ở biệt thự Sen Trắng, ở Ngã năm Cái Chuông Rạn, bỗng lạnh toát, tay cầm máy run lên. Xem kĩ một lúc, anh bàng hoàng nói:
- Không thấy tòa nhà lớn, với hai cái nhà nhỏ đối xứng, và sân Sen Đỏ đâu cả! Toàn bộ khuôn viên biệt thự Sen Trắng cũng biến đâu mất! Trong băng hình, chỉ có hai mươi lăm người chúng ta, cùng bốn trẻ nhỏ, với một mảnh đất kha khá, trên đó có ba ngôi nhà nhỏ, lụp xụp! Trời đất ơi! - anh Đoàn hơi nghẹn ngào - Cũng không có tượng đài Nguyễn An Ninh, với anh công nhân trí thức quét rác, nâng cao Sen Đỏ và chuôi Cái Chuông Rạn trên Trống Đồng Đông Sơn đoàn kết đâu cả! Chỉ có hai mươi chín người chúng ta ở bồn tâm hoa cỏ giữa ngã năm thôi! Sao kì lạ vậy nhỉ! Ờ... mà sao lại đóng phim chỉ với cái máy quay bỏ túi này!
Bên bờ nước ở Đầm Sen, lúc này đã tụ lại cả hai mươi ba người vì chuyện lạ anh Phan Kết Đoàn vừa nói. Họ đều im lặng. Hãng đặt mắt vào ống ngắm của máy, cũng kinh ngạc hồi lâu.
- Ước vọng truyền bá thơ ca và tiểu thuyết của mình chẳng lẽ chỉ là mộng! Mộng, cứ ngỡ là hiện thực! Hóa ra tôi hài hước, lố bịch hóa ông bà Hương Chữ và tất cả chúng ta đây sao! - anh Đoàn ném mạnh cái máy quay băng hình xuống đầm nước, với nụ cười chua chát - Đó, thế là tôi cũng tự biếm, tự lố bịch hóa bằng hình tượng nhân vật trong truyện, trong... phim rồi đó. Ôi, con cóc muốn bằng con bò! - anh ngẩng mặt - Bằng lòng chưa hỡi ''trẻ tạo hóa đành hanh''? - anh Đoàn bật cười - , không! Trong đời thật, chúng ta tốt đẹp hơn nhiều!
Lạ thay, mặt nước không một tiếng vang, không một chút xao động, vẫn gợn nhẹ sóng nắng buổi sáng. Lạ thay, cái máy quay băng hình ấy cũng chỉ là giấc mơ đẹp, đã thoảng bay, vô hình như ngọn gió. Giấc mơ của các diễn viên!
Anh Đoàn, anh Cơ Dân, Hãng, Tre Trúc và cả anh Mặc Chi bật cười. Hai anh lái xe cũng không thể nín cười. Ông Hương Chữ, bà Lụa Hà, Hoài Hương, Hoàng và cả vợ chồng Vũ Thương Hoài cũng bật cười. Những người lớn còn lại cũng bật cười. Chỉ bốn đứa trẻ bật khóc. Cơ Nguyên, Y Cao, Cây Bàng và Bến Chữ - cậu bé mới mồ côi mẹ, con trai anh Mai Tự - khóc ngất như chưa bao giờ khóc đến thế, khóc vì không được đóng phim!
- Tượng đài Nguyễn An Ninh muốn dựng cũng phải đề xuất, kiến nghị chứ. Có gì mà khóc với cười nhỉ! - diễn viên Hương Chữ nói - Ôi, chúng ta, một nhóm diễn viên bảo thủ, gàn dở chăng?
Nắng lấp loáng trên đầm nước ngan ngát hương sen ca dao. Rất vang giòn tiếng cười và tiếng đùa của họ. Bốn đứa trẻ cũng bật cười tuy mặt mày còn ướt đẫm nước mắt.
Diễn viên Hương Chữ diễn tiếp, bằng cách đi thụt lùi đến tận mép nước, loạng choạng suýt ngã xuống đầm, rồi lấy lại thăng bằng. Hoảng hốt, mặt tái ngắt, ông bước tới chỗ hai mươi tám người đang đứng, ngồi, với hai mươi tám nụ cười thán phục. Quả là một ''miếng diễn'' cường điệu với ẩn dụ rất đạt.
- Ôi, chúng ta, một nhóm diễn viên bảo thủ, gàn dở, chỉ chịu lùi một chân kinh tế thôi! Vâng, dứt khoát vậy nhé, chỉ lùi một chân thôi, nhưng coi chừng, lọt xuống đầm luôn thì khốn. Các bạn hãy suy nghĩ giúp chúng tôi. Có thể chúng tôi thiếu thức thời hay không xu thời, hoặc sa đọa, phản động, chia rẽ, hữu khuynh, quá ''tả''... Xem phim xong, xin lỗi, ai đó không vô ngã, vô chấp, cứ cột chặt trái tim mình vào quyền lợi chức vụ và vật chất, vào các tư tưởng thần bí, mê tín, đừng ám hại chúng tôi nhé. Chúng tôi đâu muốn chết! - ông như nói với khán giả.
Diễn viên Hương Chữ bỗng xoạc chân, nhảy lên, hóa thành một ông khổng lồ, một chân phải đứng tấn tận mép đầm, một chân trái cũng đứng tấn tận bảng ''Công viên Văn hóa Đầm Sen''. Tất nhiên đó chỉ là cú vươn vai trở thành khổng lồ với ước lệ của tuồng chèo, với các đạo cụ, bối cảnh tượng trưng. Tất nhiên hai mươi hai người vốn rất phong phú trí tưởng tượng, theo tiểu xảo điện ảnh, mới thấy rõ phút hóa thân kì vĩ của diễn viên Hương Chữ. Bốn đứa trẻ, với bốn đôi mắt trẻ thơ là thấy rõ nhất ảnh ảo đó. Chúng há hốc mồm, ngẩn ngơ thích thú, và cả tự hào nữa.
- Tôi, tôi là Cóc Kiện Trời đây! Cóc kiện Nhà Trời sao không thuận hòa mưa nắng, sao thơ và tiểu thuyết của tôi không được truyền bá khắp nhân gian trên trái đất!? - diễn viên Phan Kết Đoàn lại diễn, với các thao tác nhảy cóc rất khỏe, rất hài - Nhưng Cóc tôi không biết nghiến răng đâu nhé!
Đặt hai tay lên đầu gối, với tư thế ngồi xổm trên đường, như một con cóc khổng lồ, Phan Kết Đoàn (một diễn viên ''dỏm'', chưa hề đến phim trường, sàn tập để... đóng phim, đóng kịch bao giờ!) phóng từng bước nhảy nghìn dặm, bay lên cầu thang Nhà Trời. Những tiếng cười vui nhộn vang lên giòn giã.
Đặt ngón cái vào cánh mũi, bịt lại một lỗ mũi, đồng thời ngón trỏ gảy vào cánh mũi kia trong lúc đẩy hơi ra, tạo nên tiếng đàn từng tưng, anh Cơ Dân diễn rồi nói:
- Tôi chả chịu làm quản gia đâu nhé - anh Cơ Dân bóc cái bớt vểnh trên mép phải trong tiếng vỗ tay tán thưởng - Tôi không có năng lực quản lí và điều hành đâu. Tôi là diễn viên mà lị! Vả lại, không ai có thể sáng tác nhạc thay tôi. Nhạc của tôi phải rất Cơ Dân, mặc dù viết về ai, cho ai, thay ai đi nữa - anh Cơ Dân lại gảy ''đàn mũi'' giữa những tiếng cười vui.
Bỗng từ cổng công viên, các diễn viên đóng các vai phản diện, đã chết hoặc đang bị tù, ung dung bước tới. Họ trở lại tính cách thật của họ trong tiếng cười, tiếng vỗ tay của đồng nghiệp.
Gion là một ông Mỹ thật với tóc vàng, mắt xanh nhạt, cao đến một mét tám mươi lăm, nói tiếng Việt rất hay. Như thể ra sàn diễn, ông Gion liền nhập vai tử tù gián điệp đang bị xử bắn trong một lúc, rồi trở lại con người thật của mình:
- Tôi chỉ là một kiến trúc sư đang nghiên cứu ở Việt Nam, bỗng được mời đóng một vai ''tiểu thuyết điện ảnh''. Mặc dù mới đọc bản thảo tiểu thuyết chưa được chuyển thể thành kịch bản phim truyện, tôi đâm ra căm ghét vai trò của tôi đến mức ghê tởm, ghê tởm đến bật khóc. Không! Không thể như vậy! Tôi ao ước được làm nhà khoa học - nghệ thuật kiến trúc yêu chuộng hòa bình của nhân loại. Tôi chỉ nung nấu khát vọng: chất xám và máu đỏ của tôi sẽ được cống hiến cho Việt Nam và cả nhân loại. Làm sao tôi cam tâm bán mình để làm giàu cho các ''quý ngài tài phiệt''! Tôi còn là một chiến sĩ hòa bình, quyết tâm vận động nhân dân tôi kết án tử hình các tập đoàn sản xuất vũ khí, nếu họ vẫn muốn làm giàu bằng chiến tranh và tội ác - ông Gion mỉm cười, cương quyết và hiền hậu.
- Tôi, Vũ Hồng Ngà - ông Ngà nói - Cũng như các đồng nghiệp ở đây, tôi mới tập dượt để vào vai phản diện, cũng đã được khen là rất xuất sắc. Lão Nguyễn Hà Đông ơi, và cháu Nguyễn Đồng Triệu ơi, ra đây nào.
Hai người đã chết ở trường xử bắn tử tội cười hinh hích và cười mỉm, bước ra. Ông Ngà quàng vai họ. Diễn viên phụ, được nhiều diễn viên khác đoán là sẽ lãnh giải xuất sắc nhất, lại nói:
- Thế là trọn vai rồi ! - ông Ngà cười - Hãy lại là mình rất thật! Này cháu Triệu, hãy đứng vào chỗ của gần hai mươi người đang tuổi hai mươi kia. Còn các lão xồn xồn đứng tuổi, các lão già sụm chúng ta, đừng lấn sân chơi của tuổi hai mươi. Chúng ta hãy đứng cạnh tuổi hai mươi, hãy cùng họ nói lên bao khát vọng, hoài bão, bao khó khăn, trở lực trên bước đường hiện tại và tương lai của họ. Chúng ta chỉ là những nhân vật phụ thôi mà! Nhân vật trung tâm đâu, hãy hết mình đi! Hãng và Thắp ơi, mặc dù còn quá sách vở với cách tư duy, cách nói nhà trường, chưa ''hồn nhiên thượng thừa'', các bạn vẫn là tương lai. Vũ Thương Hoài - Đào Hải, Tre Trúc, Song Mây, Nghị, Trắng Cát, Gió, Lúa Ngọc... cũng là tương lai. Để nhuần nhị, phải trải qua giai đoạn có độ chênh giữa nhận thức với hành động và sinh hoạt như một tất yếu. Đúng vậy không, hỡi những người trẻ tuổi đang ở trong nhà trường và mới ra trường, cọ xát, va chạm với thực tiễn chưa bao nhiêu? - ông Vũ Hồng Ngà lại pha trò - Ôi, ở những trang kết này, sao các lão xồn xồn, các lão già sụm chúng ta lại nhiều lời đến thế. Những người đang tuổi hai mươi đâu, các nhân vật trung tâm đâu?
Hãng đang ẵm Cây Bàng, đứng bên Tre Trúc, mỉm cười:
- Từ đầu đến cuối tiểu thuyết, vẫn là chúng tôi... Có người nghĩ chúng tôi đã được tô hồng!... , thế thì, xin đừng ảo tưởng về lũ trẻ chúng tôi nhiều lắm, mặc dù tuổi hai mươi vốn rất cần sự tôn trọng và tin yêu, mặc dù tuổi hai mươi rất khổ tâm trước sự... tự phụ về kinh nghiệm, có thể đã... lạc hậu, ''lão hóa'' của các bậc cha chú - sực nhớ đang bị ám ảnh bởi vai diễn, Hãng cười - Riêng tôi, tôi được vào vai hơi chính trị một cách còn sống sít, văn hóa một cách chưa nhuần nhị, hồn nhiên. Đó có phải là cố tật không? Vâng, là cố tật của nhân vật tiểu thuyết. Một cố tật đáng yêu! Tôi vẫn nghĩ, độ chênh của anh Mai Tự, của Gió cũng là đặc điểm của chúng tôi. Nhưng bác Vũ Hồng Ngà cũng có độ chênh giữa nhận thức với hành động, sinh hoạt như thế. Độ chênh ấy là bi kịch đáng quý và đáng ghét của loài người! Bi kịch về độ chênh ấy có thể tạo nên những nhân cách cao cả, hoặc những kẻ ngụy tín, hoặc những kẻ tử tội - Hãng, diễn viên chính, nhiều người hi vọng cũng sẽ được trao giải xuất sắc nhất, nói tiếp - Và xin thay mặt anh Phan Kết Đoàn, thưa rằng, đây chỉ là một tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu. Thực tế tiêu cực, mại bản chỉ xảy ra ở các ngành đã được báo chí phản ánh, chứ chưa phải ở ngành xây dựng. Xin xem đây là một tiểu thyết giả định có tính cảnh báo, trong đó ít nhiều có vận dụng thủ pháp nghệ thuật cường điệu, gián cách... Cũng xin hỏi: Có phải tác giả Phan Kết Đoàn thiếu khách quan, trung thực chăng? Nói rõ hơn, có phải anh Đoàn đã thiên lệch khi xây dựng, khắc họa một nhân vật cán bộ Miền Bắc quá thâm độc, quỷ quyệt, tham lam như thế chăng? Cũng xin hỏi thêm: Có phải anh Phan Kết Đoàn muốn thông qua nhân vật chẳng khác gì con rối, có tên là Vũ Hồng Ngà, để tố cáo những bàn tay giật dây, điều khiển, ''đạo diễn'', vốn là những tên cáo già, cáo trẻ, gián điệp gian ác, thâm độc, quỷ quyệt vạn lần hơn?
- Hãng! Hãng! Cứ vặn vẹo, bắt bẻ anh đi Hãng! - nhà thơ con cóc Phan Kết Đoàn, đã từ Nhà Trời bước xuống tự hồi nãy, đang nhe răng cười hềnh hệch.
Cây Bàng bỗng nói, như với lời thoại của người lớn:
- In sách có cháu là nhân vật đi! In đi! In đi mà! Rồi cho cháu đóng phim luôn! Cháu thích có mặt ở đời như trong tiểu thuyết, trong phim lắm!
Những nhân vật của tiểu thuyết cười vang cả một góc Công viên Văn hóa Đầm Sen. Cũng là các diễn viên, họ đều ao ước được vào phim điện ảnh.Trong cơn say lao động nghệ thuật, họ thích thú với việc lẫn lộn giữa thực và hư, giữa tính cách thật của họ trong đời thật và tính cách nhân vật trong tiểu thuyết, giữa ''đã'' với ''đang'' và ''sẽ''.
Tưởng không ai nói gì nữa, bất ngờ anh Mai Tự lại lên tiếng, tuy lúng búng như gà mắc tóc:
- Ai... nói... nói... nói gì thì nói, tôi vẫn xem đây là một cuốn tiểu thuyết có dáng dấp tiểu thuyết triết luận (sic!). Do có vài đoạn luận về triết, triết dưới dạng luận, kể cả... lí luận bằng độc thoại nội tâm, kể cả đàm luận về... về... ''chuyên luận'', một ''chuyên luận'' (!) với các ý tưởng rất riêng của nhà thơ con cóc ... bốc phét Phan Kết Đoàn, gửi gắm qua nhân vật tuyệt vời Tre Trúc và... và... và..., nên... xem ra hơi... khô khan. Bởi hơi khô khan, tôi... tôi... tôi... có... lỡ dại... cho có vẻ... bậy bạ...
Song Mây đỏ bừng mặt, tuy ý thức rõ mình đang sắm vai diễn. Mọi người lại được một mẻ cười vỡ bụng. Ai đó bỗng nói:
- ''Bậy bạ'', ''tươi mát'' một cách ẩn dụ thôi nhé! Tôi cũng phê phán '' miếng diễn cà lăm'' hơi... ác... với tật nguyền của nhiều người, mặc dù tật cà lăm có trường hợp chữa được. Nhưng còn nhiều loại tật nguyền thể chất, tinh thần không thể chữa khác nữa! Tôi căm là anh Mai Tự đã ''cà lăm'' để gây cười!
Lại những tiếng cười, có tiếng chạnh lòng, có tiếng ngặt nghẽo.
Nghị, nhân vật điển hình của hiện tại và của tương lai, chói sáng nhất, chỉ khiêm tốn trong ''tiểu thuyết điện ảnh'' này, lúc này cũng chỉ mỉm cười.


Viết xong lúc 15 giờ 11 phút
ngày 26.05.1999 (12 tháng tư kỉ mão)
Bổ sung, sửa chữa xong lúc 8 giờ 20 phút
ngày 23.06.1999 (10 tháng năm kỉ mão),
tại thành phố Hồ Chí Minh



(1) Se-na (chaignage) thượng, khung xà thượng.
(2) Nhạc và lời của Hoàng Việt.
(3) Nhà nhân tộc Mường và ở một số nơi tại Nghệ An cũng bốn căn, khác với thuật phong thủy, số căn luôn phải lẻ. Xem: Ngô Huy Quỳnh, Lịch sử kiến trúc Việt Nam, Nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội - 1998, tr. 55 và 63.
(Chỉ tham khảo các lượng thông tin ghi từ thực địa).
(4) Những bài thơ đưa vào tiểu thuyết này là của tác giả (Trần Xuân An), đã được xuất bản, từ năm 1991 đến nay.
(5) Diễn ra từ ba phụ âm đầu của địa danh Buôn Ma Thuột: BMT.
(6) Cứ giả định bản nhạc này đã có trước 1996, bởi trong thực tế chỉ được biết trong một, hai năm gần đây. Xin xem chi tiết phi lịch sử - cụ thể này trong việc hư cấu nhân vật như một cách vận dụng thủ pháp gián cách. Tác giả tiểu thuyết tạm dịch bản ca từ trên, dưới dạng một bài thơ.
(7) Song hỉ: niềm vui hai họ, đôi lứa. Happy: hạnh phúc.
(8) Bài thơ này chưa đăng báo hay xuất bản.
(9) Tiếng reo của Ác-si-mét (Archimède) lúc đang tắm, phát hiện ra định luật về sức đẩy của nước.
(10) (*) Vũ Như Tô, kiến trúc sư xây Cửu Trùng đài, trong thời Tiền Lê và trong vở kịch mang tên ông của Nguyễn Huy Tưởng.
(*) Đoàn Trưng, Đoàn Trực và cuộc khởi nghĩa Chày Vôi, chống lại Tự Đức. Ca dao xứ Huế:
''Vạn Niên là Vạn Niên nào
thành xây - xương lính; hào đào - máu dân''
.
(*) Nguyễn An, người Việt, bậc kì tài kiến trúc, bị bắt sang Trung Hoa thời Tần. Có tư liệu cho rằng, ông bị bắt vào thời nhà Minh, và là kiến trúc sư chính trong việc xây dựng kinh thành nhà Minh ở Trung Hoa.
(11) Thật ra, Nguyễn Du đã bỏ hẳn, lướt qua nhiều đoạn tục tĩu, độc ác trong ''Kim Vân Kiều truyện'' của Thanh Tâm Tài Nhân. Điều đó chứng tỏ nhân cách và nhân đạo của ngòi bút ông. Xem thêm: Thanh Tâm Tài Nhân, truyện Kim Vân Kiều, bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Nguyễn Khắc Hanh, Nxb. Hải Phòng - 1994.
(12) Kinh Thánh, Ma-thi-ơ: 1:18-19. Sự tích được nhận thức lại bởi các nhà khoa học hiện đại dưới ánh sáng của chủ nghĩa nhân đạo mới. Đạo Tin Lành không thờ kính Đức Mẹ Ma-ri-a và Thánh Giu-se.
(13) Linga và Yoni của người Việt - Kinh. Ở vùng Dị Nậu và Khúc Lạc, tỉnh Phú Thọ, nhân dân rước Nõn và Nường như rước thần, cũng với một triết lí về âm dương, về tín ngưỡng sinh thực khí theo triết lí ấy để chống chủ nghĩa khoái lạc nhục dục. Xem Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên, Nxb. KHXH. - 1977, tr. 589.
(14) Nội chiến Miền Nam - Miền Bắc nước Mỹ: 1861 - 1865. Cái chết vì tai nạn xe cộ của Margaret Mitchell và cả cái chết vì bị bắn bằng súng lục khi xem diễn kịch của tổng thống Mỹ Abraham Lincoln ít nhiều đều có liên quan đến "di chứng hậu chiến". Nhưng đấy là chuyện ở Mỹ!
(15) Nhận thức vấn đề theo quan điểm lịch sử - cụ thể: Chủ quyền Đất nước dưới chế độ quân chủ cũng là một hình thức quan hệ sở hữu phong kiến (Đất nước và thần dân là tài sản và tôi tớ của hoàng tộc cầm quyền, nối đời thừa kế). Do đó, Nguyễn Ánh (Gia Long) đánh đổ triều Tây Sơn là để giành lại cái gọi là quyền sở hữu Đất nước Đàng Trong và thần dân của dòng họ mình, và thừa kế luôn cả Đàng Ngoài mà dòng họ ông ta có công trung hưng (vai trò công thần của Nguyễn Kim). Chủ quyền Đất nước và nhân dân được xác lập theo quan hệ sở hữu phong kiến về tài sản và nô bộc là một quan niệm phản động, cực kì phản động, nếu đứng ở giác độ dân chủ để phê phán. Tuy nhiên, ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Ánh vẫn chính nghĩa theo quan niệm phong kiến! Và cũng cần khẳng định rõ: mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và cố đạo thực dân Pigneau de Bêhaine (Bá Đa Lộc) chỉ là quan hệ lợi dụng lẫn nhau mà thôi! Sau khi nắm được ngai vàng hoàng đế, chính Gia Long (Nguyễn Ánh) đã hạn chế sự bành trướng Thiên Chúa giáo! Như thế, trên cơ sở đó, có thể có một nhận định: Quang Trung (Nguyễn Huệ) đáp ứng được yêu cầu bức thiết của lịch sử là phải thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài (mặc dù công lao ấy phần nào còn bị hạn chế do tình trạng tam phân giữa ba anh em Tây Sơn); nhưng Gia Long (Nguyễn Ánh) không phải không chính nghĩa, xét theo quan hệ sở hữu phong kiến về vương quốc, thần dân, và Gia Long còn kế thừa cả sự nghiệp thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài của Quang Trung một cách tốt đẹp. Đó không phải là một nhận định "ba phải", mà xét trên cơ sở sự thật lịch sử và xét theo quan điểm cụ thể - lịch sử tiên tiến, khoa học nhất của chúng ta, trong thời đại dân chủ hiện nay. Mặc dù đối với chúng ta hiện nay, chế độ phong kiến nói chung (chứ không phải chỉ riêng triều Nguyễn) vốn đã trở nên quá lạc hậu, cực kì phản động, "một đi, không bao giờ trở lại", nhưng cũng phải công bằng, thỏa đáng trong việc nhận định lịch sử.
(16) Nhất Hạnh, Đạo Phật đi vào cuộc đời, Nxb. Lá Bối - 1966 (bản in lần thứ hai), tr. 95.
(17) Chu Văn An, Lê Hữu Trác, Trần Hưng Đạo, và Nguyễn Trãi - bốn danh nhân dân tộc - đã được nhân dân thờ kính trải qua nhiều thời đại với nhiều quan điểm, góc độ đánh giá khác nhau. Ở đây chỉ để hướng chân tâm, "thực nghiệm tâm linh".
(Bài thơ này đã đăng báo, xuất bản từ 1993).
(18) Nhược điểm duy nhất có thể gây thương tích, dẫn đến cái chết cho một nhân vật đã được trở nên mình đồng da thép trong I-li-át (Iliade) của Hy Lạp. Thành ngữ Phương Tây.
(19) Từ điển văn học, tập II, Nxb. Khoa Học Xã Hội - 1984, tr. 44 - 45.
(21) Đốt: Dos., gọi tắt. Nghĩa của tên Maxim "Gorki": Cay Đắng.
(22) Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc: câu 50.
(23) Tác giả: Nguyễn Nguyên (Hải Thọ, Quảng Trị).
(24) ''Kính quỷ thần nhi viễn chi''; ''vị năng sự sinh, yên năng sự tử''.
(25) Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội - 1998. Xem chương "Tư tưởng Hồ Chí Minh, đỉnh cao của văn hóa Việt Nam", tr. 438 - 478.
(*txa) Cước chú: Trần Xuân An (tác giả) với cai tên nhân vật tiểu thuyết là Phan Kết Đoàn.
(26) Thanh Tâm Tài Nhân lớn hơn Thúy Kiều bốn tuổi và có quan hệ với cô (?). Xem chú thích trang 104.
(27) Xem Ngô Văn Doanh, Danh thắng và kiến trúc Đông Nam Á, Nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội - 1998, tr. 470 - 471.
(28) Bài ca dao thứ hai do Nguyễn Nguyên sưu tầm trong nhân dân làng Kẻ Diên. Từ ''ung'' đi với từ ''trứng'', ở bài thứ nhất, trong ngôn ngữ hằng ngày tại làng không còn thông dụng, dù ''trứng ung'' là một ngữ thuộc tiếng Việt phổ thông hiện nay.
(29) Hai bài thơ này chưa đăng báo hay xuất bản. Riêng chi tiết về bi kịch Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ: bi kịch này thường được dân gian truyền khẩu qua truyện Rắn báo oán (vay mượn từ điển tích Trung Hoa, thời nhà Minh?). Qua truyện truyền khẩu này, dân gian cho rằng Nguyễn Thị Lộ đầu độc Nguyễn Trãi bằng nọc tình (tình yêu say đắm), đầu độc vua Lê Thái Tông bằng nọc độc (thuốc độc gây chết người). Một số nhà nghiên cứu sử học đã chiêu tuyết cho hai nhân vật lịch sử này bằng cách chứng minh hình tượng rắn trả thù (đầu độc vua Lê bằng nọc độc) là Nguyễn Thị Anh chứ không phải Nguyễn Thị Lộ ... Ý kiến tồn tại của đại đa số từ xưa đến nay là vẫn chỉ chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi. Dẫu sao, vấn đề của bi kịch vẫn là ở ý nghĩa: thiên tài Ức Trai (Nguyễn Trãi) bị hãm hại bởi bọn gian tà.
(30) "Duy trì cho kì được gia tài tư tưởng mà Bác để lại, tiến hành một sự vượt gộp mới (tôi nhấn mạnh năm chữ "một sự vượt gộp mới" - tác giả tiểu thuyết) giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với văn hóa, khoa học kĩ thuật của giai đoạn mới. Ngoài ra, không có con đường nào nữa". Trích: Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, sđd., tr. 478.
(31) Nguyễn Ngọc Thạo, bài báo "Cái "hồn" của lá", viết về KTS. Nguyễn Tài My, Tuổi trẻ Chủ nhật, số 8 - 99, 28. 02. 1999.


Tác phẩm đã xuất bản và đã đăng kí bản quyền tại Cục bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam:

1. Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
2. Hát chiêu hồn mình, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
3. Tôi vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.
4. Lặng lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
5. Kẻ bị ném vào bão, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
6. Hát với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.
8. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.
9. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
10. Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
11. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM.
http://www.giaodiem.com tháng 11-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm
12. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm

Tác phẩm đã hoàn tất bản thảo:

13. Mùa hè bên sông (Nỗi đau hậu chiến), tiểu thuyết, 1997; hai bản đã sửa chữa và bổ sung, 2001 (lần hai) và 2003 (lần ba).
Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com tháng 6-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
14. Thơ những mùa hương, thơ.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/
15. Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
16. Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn, 1999.
http://www.giaodiem.com tháng 10-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm

Soạn phẩm biên khảo đã hoàn tất bản thảo:

17. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000 & 2003.
http://www.giaodiem.com tháng 8-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
18. Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.
19. Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.
20. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003. Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
21. Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận, 7.2004.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm

Tặng thưởng, giải thưởng:

1. Báo Văn nghệ giải phóng, 1975.
2. Giải Sáng tạo trẻ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.


TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI TRUY CẬP THÊM
CÁC ĐỊA CHỈ WEBs / BLOGs
(bấm vào các đường LINKs sau đây):

I. THƠ : _________________________
________________________________________________

http://tranxuanantthitap1.blogspot.com/
http://tranxuananthitap2.blogspot.com/
http://tranxuananthitap3.blogspot.com/
http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/
http://tranxuananthitap5.blogspot.com/
http://tranxuananthitap6.blogspot.com/
http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/
http://tranxuananthitap9.blogspot.com/
http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/

II. TIỂU THUYẾT : _________________
________________________________________________

http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/

III. PHÊ BÌNH – TIỂU LUẬN : ________
________________________________________________

http://tacphamtranxuanangiaodiem.blogspot.com/
http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/
http://tranxuanantieuluan9b.blogspot.com/
http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/

IV. TRUYỆN – SỬ KÍ –
KHẢO CỨU TƯ LIỆU LỊCH SỬ :
____________
________________________________________________

http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt3a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt3b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt4a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt4b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt4c.blogspot.com/

V. TRANG PHỤ : PHẢN HỒI : ĐỒNG CẢM – TRAO ĐỔI – LÀM RÕ & ĐÍNH CHÍNH _____________
_________________________________________

http://tranxuanan-trphu.blogspot.com/



HOẶC CÓ THỂ BẤM VÀO DÒNG CHỮ
VIEW MY COMPLETE PROFILE
Ở BẢNG ABOUT ME
ĐỂ TỪ NHỮNG ĐƯỜNG LINKs TẠI ĐÓ,
ĐỌC NHỮNG TÁC PHẨM KHÁC CỦA TÁC GIẢ
TRÊN WEBs / BLOGGER.


NGOÀI RA, CÓ THỂ TRUY CẬP THÊM
CÁC TÁC PHẨM SÁNG TÁC, KHẢO LUẬN, BIÊN SOẠN
CỦA TÁC GIẢ
TRÊN TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ GIAO ĐIỂM
(xin bấm vào các đường LINKs sau đây):

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1205_index.htm

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm


Trân trọng và cảm ơn.
Tác giả,
Trần Xuân An



TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH.
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN.

XIN TÌM ĐỌC
CÁC CUỐN SÁCH KHÁC CỦA TÁC GIẢ
KÍNH CẢM ƠN


HẾT

TRẦN XUÂN AN

SEN ĐỎ,
BÀI THƠ HÒA BÌNH 2

Phần II

22



Một tuần lễ ở nhà, không bước chân ra khỏi cổng, Hãng sốt ruột, hồi hộp chờ cơn chuyển bụng của vợ, sự ra đời của đứa con trai đầu lòng. Tre Trúc và ba má, ông bà nội Hãng cùng cả nhà Sen Trắng đều biết từ một hai tháng trước, Tre Trúc sẽ sinh con trai, vì Hãng đã chở vợ đi bệnh viện siêu âm một vài lần. Hãng cảm thấy niềm vui ấy đã bị nỗi buồn hận, không yên lòng do từ phía ông Vũ Hồng Ngà dập tắt. Hãng cố bình tĩnh, không muốn Tre Trúc buồn. Tre Trúc cũng cố vui, không dám rầu rĩ, vì sợ ảnh hưởng đến con trai trong lòng sắp ra đời. Hãng bắt chước ông Hương Chữ tập dưỡng sinh, cũng đôi khi uống thuốc an thần, nhưng chỉ một vài viên suốt cả tuần lễ, vì sợ phải nghiện. Còn việc đi chợ, may thay lâu nay vẫn nhờ Song Mây... Hãng cố tự trấn tĩnh, nhưng lại thấy thêm chút hèn, vô trách nhiệm của mình. Phải đấu tranh chống tội ác, chống sự toa rập với tư sản nước ngoài. Cái chính là phải báo động sự mất chủ quyền, lệ thuộc kinh tế. Viễn cảnh giới chủ nước ngoài sẽ làm chủ kinh tế đất nước khiến Hãng quên hận, quên vui, anh nóng bừng phẫn nộ. Bình tĩnh ngẫm nghĩ, Hãng thấy không có chọn lựa nào khác, phải xác định mục tiêu đấu tranh, đối tượng chính là tư sản xuyên quốc gia! Nhưng đấu tranh cách nào? Phải chăng đó là nếp mòn của tư duy cũ, chưa đổi mới? Đổi mới là phải chấp nhận thỏa hiệp đến mức đánh mất cả quyền làm chủ đất nước, biết đất nước thành thị trường tiêu thụ, nơi bị khai thác, hút kiệt tài nguyên, đẩy nhân dân đến chỗ phải bán sức lao động với giá rẻ mạt? Tư duy cũ đúng hay tư duy đổi mới đúng? Hãng tự hỏi và cảm thấy Vũ Hồng Ngà, những Vũ Hồng Ngà, vừa đáng căm ghét vừa đáng thương hại. Có lẽ nào Vũ Hồng Ngà không hiểu những vấn đề trong Đổi mới?
Lúc chở vợ đến bệnh viện, ngồi chờ phút con trai đầu lòng ra đời, Hãng đọc báo. Và chợt nảy ý định viết tạp bút để báo động vấn đề nhức nhối ở công ti ông Ngà. Đúng rồi, phải tách ra từng khía cạnh, mỗi khía cạnh viết một bài, chỉ phiếm chỉ. Ồ, đấy là lối thoát. Không đụng đến ông Ngà và công ti, không dẫn chứng cụ thể, vâng, chỉ phiếm chỉ, và kí bằng một bút hiệu nào đó. Không thể không viết. Không viết là đồng lõa. Nhưng viết thế nào đây? Chính trị một cách sống sít ư? Hãng vẫn dè dặt tự hỏi, liệu anh có cường điệu quá không?
Lúc má Hãng reo lên, biết Tre Trúc đã sinh nở mẹ tròn con vuông, Hãng cũng reo lớn đến mức anh không ngờ. Hai niềm vui cùng một lúc ùa vào tâm hồn Hãng. Trái tim Hãng bỗng lại lành lặn, đỏ thắm, nguyên vẹn. Ngọn lửa của hai niềm vui nung đến tiêu sạch các lưỡi câu ngạnh độc ác trong đó. Phải rồi, phải viết bài báo!
Hãng bước vào phòng trẻ sơ sinh. Đứa con trai bụ bẫm, rất giống Hãng, đỏ hỏn trong nôi. Trên giường, Tre Trúc thiêm thiếp sau cơn đau xé ruột, bỗng mở mắt, nhìn Hãng trìu mến. Anh siết nhẹ tay vợ, muốn truyền cả sức mạnh của mình vào thân thể mệt lả dưới tấm ra trắng. Tre Trúc bỗng xúc động, ứa nước mắt. Hãng chẳng hiểu sao anh không khóc được, chỉ mở miệng cười ngờ nghệch, nói với Tre Trúc một câu mừng rỡ về con trai. Cô lại mỉm cười với nụ cười thoảng sáng, hơi yếu ớt. Hãng cũng thoát khỏi nỗi hèn, nỗi sợ và thế kẹt. Anh như một đứa trẻ, do sự nung nấu, nghĩ ngợi, khổ tâm của chính anh sinh ra, mới cách đây mươi phút.
Hãng ngập ngừng, rồi cố gắng tếu một chút:
- Tre Trúc này, vậy là phần em xong rồi, còn lại là phần anh nhé.
Tre Trúc chợt nhớ hôm nào hai vợ chồng đã đùa với nhau, cô suýt bật cười nhưng không cười nổi, chỉ lắc đầu, hơi nhếch môi, thoáng chút nũng nịu. Hãng thấy thương vợ lạ lùng. Hãng nhìn con trai đang ngủ say trong nôi, chợt nhận ra mình hoàn toàn khác trước.
Khi người hộ lí, điều dưỡng viên mời Hãng, bà Hồng Tĩnh, bà Lụa Hà ra khỏi phòng, Hãng chỉ nói thêm:
- Tre Trúc yên tâm nghe.
Đứng ở hành lang bệnh viện, anh nhìn xuống những thảm cỏ xanh mượt, các lối đi lát đá. Hoa huỳnh anh nở vàng, và tím sáng trong nắng chiều của mùa hạ mưa phương nam là hoa hoàng hậu, còn có tên móng bò dân dã. Hãng nghe bao căng thẳng trong mình, đau cực độ, vui cực điểm, chợt chùng xuống, rã rời. Đầu óc anh bỗng trống rỗng và dịu lại.
Suốt một tuần sau đó, má Hãng cùng Lúa Ngọc, Song Mây và cả bà ngoại của con trai Hãng từ Buôn Ma Thuột về đảm đương hết mọi chăm sóc, bới xách. Hai bầu vú xinh đẹp của Tre Trúc đã căng tròn những sữa. Đôi lần, nhìn đôi môi đỏ rất háu bú của con trai, vừa nhắm mắt ngủ hoặc vừa mở sáng, tròn xoe, đen láy vừa bú, rất thiêng liêng, Hãng cảm nhận được niềm mầu nhiệm của cõi người.
Hóa ra, Hãng bảo ''còn lại là phần anh'', cũng chỉ là đùa. Anh không thể tranh được quyền làm mẹ của Tre Trúc!
Giờ đây, Hãng mỉm cười khi nhìn dây phơi bên hông nhà mình trắng những tã lót. Những chiếc tã hình tam giác, chị Y Sông may tặng, bay bay nhè nhẹ như đàn cò trắng trong nắng buổi sáng. Tất cả những gì của con trai bé bỏng đều quý báu và tinh khiết với Hãng. Hãng buồn cười nhận ra, anh yêu cả phân loãng vàng tươi lợn cợn xác sữa mẹ của con mình! Hãng nhớ, đêm nào nằm bên nhau, anh đùa với Tre Trúc:
- Thấy Tre Trúc mang bầu, nặng nhọc, anh muốn mang giùm em quá à.
- Thôi, đừng đểu miệng nghe. Sinh xong, em giao con cho anh chăm sóc đấy, từ tã lót đến việc tắm rửa cho con. Chỉ tiếc cặp vú trên ngực đàn ông là quá thừa và vô duyên - Tre Trúc cười khúc khích.
Hãng bật cười:
- Ừ nhỉ ! Chắc chỉ có ý nghĩa trang trí thôi.
- Đúng rồi! "Trang trí ngoại thất" cho vòm ngực - Tre Trúc cũng bật cười - Mọi cái còn lại đều có chức năng, tác dụng thiết thực. Em nghĩ, cặp vú đàn ông đã bị thoái hóa. Giống đực các loài động vật đều vậy. Ở loài người, còn vì chất gia trưởng của các "đấng" đực rựa!
- Chẳng lẽ mấy vạn năm về trước, đàn ông cho con bú sao?
- Em đùa đấy. Nhưng biết đâu là đúng vậy. Đàn ông phải chia sẻ chức năng sinh dưỡng với vợ chứ. Thế mới xứng là cha đẻ - Tre Trúc cười - ''Người nữ là người nữ vì bị xã hội quy định'', một nhà văn nữ bảo thế, nhưng em nghĩ, sự hình thành nữ tính trước hết là do chức năng sinh nở. Sinh nở khiến người nữ nhỏ con hơn người nam, bị cấm đoán, áp bức đủ điều. Thử tưởng tượng, nếu phụ nữ không phải sinh nở, chắc họ cũng to con, vì không mất sức từ đời này qua đời khác, và chắc họ cũng lao động nặng nhọc như đàn ông, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không sinh nở, cũng làm lụng việc nặng, không phải ''chồng cày, vợ cấy'' mà cả hai đều cày đều cấy như nhau, người nữ sẽ hoàn toàn giống đàn ông, trừ cái nõn, cái nường (13) bên dưới. Họ tự do như đàn ông trên mọi lĩnh vực, nếu giả định ấy đã là sự thật từ xa xửa xa xưa.
- Cả về lĩnh vực tình dục? - Hãng giật mình, hơi nóng đầu.
Tre Trúc đỏ mặt, bối rối, rồi cười:
- Đúng. Nhưng đây là nói chuyện khoa học mà anh.
- Cũng có thể với giả thuyết ấy chứ nhỉ! Đúng là do chức năng sinh nở quy định nữ tính, về tinh thần và cả thể xác, cả tập tục, đạo đức xã hội. Cơ sở ấy là cơ bản nhất. Nhưng chẳng lẽ phụ nữ cũng có râu à? - Hãng cười to.
- Nếu hóc-môn (hormone) sinh dục cân bằng hai loại, thì sẽ có râu. Và quan niệm thẩm mỹ cũng đã khác. Với giả định đó, người nữ nào không có râu là thuộc loại bị thiếu sót, loại có khuyết tật nhỏ, sẽ bị xem là xấu tướng.
- Đúng. Sao mèo cái xinh đẹp vẫn có râu đấy!
Cả hai đều cười ngất. Đang mang bầu, tiếng cười tràn ra từ sự đùa tếu làm Tre Trúc hơi mệt. Lát sau, Tre Trúc nói:
- Mọi cái đều do thân xác vật chất quy định, kể cả quan hệ vợ chồng, gia đình. Và đến lượt ngược lại, do sự phân công lao động, nên sinh ra óc gia trưởng phụ hệ, có thể cả sự thoái hóa vú ở đàn ông, thoái hóa vóc dáng, trọng lượng ở đàn bà, kể cả râu.
- Đó là tào lao cho vui. Nhưng điều này lại chắc chắn: sau khi em sinh xong, anh sẽ chăm sóc con, ngoài khoản cho con bú. Em sinh, anh dưỡng. Đến năm con ba tuổi, lại chia đều việc chăm sóc con. Này nhé, em mang bầu chín tháng, nhưng trải qua hai năm. Còn anh, tắm rửa, ru con, dỗ con, thuốc thang... đến ba năm. Vậy là huề, là bình đẳng. Được chưa? Sữa mẹ vẫn tốt nhất, Tre Trúc à. Nếu không, sinh xong, em giao con cho anh lo toàn bộ, còn em hoàn toàn được giải phóng... Rồi sẽ có sữa nhân tạo tốt hơn sữa mẹ! Bây giờ đã có chú cừu Đôn-li (Dolly). Sẽ sao bản, tăng bản người, trong tương lai ! Phụ nữ mất sạch mọi đường cong nữ tính tuyệt vời, sẽ thô tháp! Và bấy giờ thô tháp sẽ là nét đẹp, nét duyên của người nữ! - Hãng bật cười, vờ dọa vợ - Phụ nữ sẽ được khoa học và công nghệ giải phóng đến mức đó đấy! Phụ nữ, một nửa lực lượng lao động của xã hội chứ đùa đâu!
Tre Trúc cười, nghĩ đến đề tài nghiên cứu mới của mình:
- Nhưng đừng bó chân em như người Tàu thời xưa, cũng đừng giải phóng em khỏi luân lí, phẩm hạnh phụ nữ, cho dù có người đang kêu đòi "giải phóng" cả trinh tiết, tình dục - Tre Trúc nói - Trong các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, bài tiết, thở, mặc, ngủ, ở, được chăm sóc lúc sơ sinh và lúc bệnh, lúc già lão, ... cả nhu cầu tình dục, thì tình dục được đáp ứng đến thừa thãi trong quan hệ vợ chồng, nếu kiêng luôn vẫn khỏe mạnh, cho dù ăn mặn. Anh có bảo em đạo đức giả không?
- Anh vẫn thích là người đàn ông quý trọng phụ nữ vì giá trị trinh tiết. Người ta phạm tội tình dục vì thích "của lạ" thôi, và vì chú ý đến nó quá đáng, vì xã hội đang bị dịch kích dục. Anh yêu em thêm một nửa là vì trinh tiết. Trinh tiết có cái lí nhân bản rất người của nó. Người khác thú vật là ở trinh tiết. Đó là nhân phẩm. Vả lại, không ai thích đồ cũ, người khác xài rồi, hoặc đồ xài chung ở lĩnh vực này. Vợ chồng là hai nửa của một chỉnh thể. Hai của một, trọn vẹn... Đứa con là máu huyết chung, một của hai. Vợ chồng mình chỉ có một tên, là tên con đầu lòng.
- Nó đang đạp chân trong bụng em nè anh.
Hãng đặt tay lên bụng vợ, mỉm cười sung sướng.
Hãng đang mỉm cười nhớ lại những buổi tối hạnh phúc. Anh vừa giặt tã lót cho con xong. Nếu anh không bị đuổi việc vào thời gian này, có lẽ bà ngoại của Cây Bàng - tên tạm gọi của con trai anh - chắc còn ở lại đây, hoặc Song Mây sẽ bận bịu hơn. Đứng nhìn đàn cò trắng bằng vải đang bay bay, đang khẽ vỗ đôi cánh, Hãng nghĩ ngợi bâng quơ, anh lại vào nhà. Tre Trúc đã cùng Cây Bàng rời khỏi bệnh viện được vài hôm. Hai mẹ con đang ở trong phòng với tiếng nhạc rất ngọt dân ca của anh Cơ Dân, với nắng trời lan vào từ cửa sổ. Hơn ai hết, là người làm nghề kiến trúc, Hãng hiểu rõ, nhu cầu ánh sáng mặt trời cũng là nhu cầu cơ bản của sự sống. Mọi nhu cầu đều dễ thoả mãn vì nguồn cung thừa thãi. Bức thiết vì còn khó khăn vẫn là ăn, mặc, ở. Đang thất nghiệp, còn phải lo cái ăn, cái mặc đây - Hãng mỉm cười một mình. Trừ đi cái hận vì ông Vũ Hồng Ngà, Hãng mừng thầm thấy mình vẫn tốt số.
Hãng cứ lan man với các ý tưởng bất chợt, dắt díu nhau trong đầu cho đến khi bước hẳn vào nhà.
Hãng ngồi vào ghế xa lông, nghe nhạc, lại nghĩ về việc làm. Sau một tuần phân tích lại vụ việc ở công ti cũ, Hãng giật mình thấy nguyên nhân sâu xa có lẽ là do thằng Tây, tự xưng là Úc, cố ý nói tiếng Anh rất bồi ấy, trong việc anh bị đuổi khỏi công ti chăng? Hôm đầu gặp, anh có nói vài câu khá gay gắt không, Hãng cũng quên mất, và có thể có. Hay ông Ngà đã bán mình cho quỷ dữ từ lâu? Quỷ đô la rất mạnh. Thằng Tây ấy là Pháp hay Yằ? Làm sao biết, vì mới đôi lần gặp. Còn cô gái tự xưng là Việt kiều ấy, biết đâu là Nhật hay Đài Loan, rất sõi tiếng Việt, sõi hơn cả người Việt ít học! Đúng là ông giám đốc Vũ Hồng Ngà đã trở thành tay sai cho đô la, một thứ ngụy đời mới mặc dù có "mác" đỏ. Thằng Tây nọ, cô gái Á Đông nọ chỉ là điển hình trực tiếp nhưng mơ hồ của một thế lực xuyên quốc gia? Đến các lãnh tụ chóp bu ở Đông Âu cũng bị tham, sân, si và vô minh làm biến chất nữa là! Hãng sực nhớ đến đồng lương cán bộ, ba cọc ba đồng. Với nguồn thu nhập nào, ông Ngà lại có cơ ngơi như ông hoàng như thế? Hãng thấy ''cái bụng'' (lòng tư hữu vô độ và tham vọng quyền lực) ở ngay trong mỗi người là cơ sở của mọi cơ sở. "Cái đuôi kinh tế" chưa hề rụng bao giờ.
Hãng nhớ năm anh học lớp mười hai, tám bảy - tám tám, đó là thời điểm xã hội xáo trộn tư tưởng dữ dội. Hai năm tiếp theo, khi vào quân đội, đóng quân ở Trường Sa xa xăm, Hãng nghe sóng biển của Tổ quốc gầm thét theo những cơn địa chấn do sự sụp đổ của các Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Cầm khẩu súng có hơi muối mặn của sóng gió biển khơi, anh hiểu kẻ thù của loài người là tham, sân, si và vô minh. Đó là tư hữu tư bản, là thù hận, căm giận, ganh ghét và mê đắm khoái lạc, hưởng thụ. Đó là sự đồng lõa hay chủ tâm xem bóc lột là lẽ sống, xem quy luật "người ăn thịt người" (mồ hôi, chất xám), "người là chó sói của người" (theo quy luật "văn minh" tàn bạo) là lí tưởng. Kẻ thù, là thế lực tư sản bên ngoài. Kẻ thù cũng là lòng tư hữu chỉ chực có thời cơ là thành óc tư sản trong bản thân mỗi người, kể cả bên trong ông Ngà, bên trong Hãng? Đúng ư, thằng giặc ở bên trong mỗi người: "giặc tư bản chủ nghĩa"? Có phải trong tim đen mỗi con người đều có ít ra là một "con đĩa hai vòi''? Con người - với bản chất tham, sân, si và vô minh - còn do cơ chế xã hội nữa. Thằng Tây, cô gái tự xưng Việt kiều kia, có lựa chọn cơ chế xã hội để sống được đâu. Chỉ là hai con ốc của một guồng máy! Chỉ là hai kẻ làm thuê! Ông Ngà cũng bán mình cho lòng tư hữu tư bản, óc địa vị, có thể còn nuôi tham vọng với ý định ''trở gió'', cơ hội để vọt lên địa vị xã hội cao hơn, như các cán bộ ở Đông Âu, ở cả Liên Xô! Nhưng dù với cơ chế nào, cũng có kẻ tốt người xấu. Không thể đánh đồng tất cả mọi người được. Đâu phải mọi cán bộ đều là Vũ Hồng Ngà! Vũ Thương Hoài có biết thực chất của bố mình không nhỉ?
Đang miên man suy tưởng, Hãng nghe tiếng con khóc, tiếng vỗ về, ru à ơi của vợ trong phòng, anh đi nhanh vào.
- Em nghỉ đi. Để anh ru con cho - Hãng âu yếm nói.
Tre Trúc mỉm cười, gương mặt đã phần nào hồng hào trở lại. Hãng nhìn vợ, lại nhìn con, khẽ ru bằng một bài thơ của bạn anh Cơ Dân. Hãng liên tưởng đến màu vàng gương Sen Đỏ và năm ngả đường trước sân biệt thự Sen Trắng, màu vàng vầng trăng đêm tỏa ngời thắm nắng! Chẳng hiểu sao trong Hãng, từ tấm bé đã nói giọng Nam Bộ của quê hương Hóc Môn, Bà Điểm, lại vẫn còn điệu hò ru con Quảng Trị của ba, với giọng Hà Tĩnh của mẹ. Điệu hò, giọng ru ngọt ngào, vàng óng bao ngọn nắng mật ong bỗng ngời trắng những chéo vải từ câu đố dân gian:
... rồi mơ ngọn nắng thật vàng
ba phơi tã lót thành đàn cò bay
cò từ đồng rộng về đây
nắng vàng nhuộm sáng cho ngày sáng tươi...

Với liên tưởng riêng, anh hiểu đêm của điệu ru cũng vàng cả nắng của những ngôi sao khuya! Sao, trăng, cả quả đất và tất thảy không ngời sáng ánh nắng của mặt trời là gì! Ngày lẫn đêm của người mẹ ru con vàng ngập nắng! Nắng từ nguồn sáng đỏ! Mặt trời đỏ, vầng mặt trời rực rỡ trên trống đồng Đông Sơn, nguồn sáng duy nhất của vũ trụ! Hãng mỉm cười, vừa ru vừa thấy mình suy tưởng thật ngộ về ngọn nguồn của nắng mật ong, vàng óng trong thơ và ngoài sân phơi tã lót bên hông nhà, cuối chái bếp. Thật ra, anh biết, trong bài thơ, đó chỉ là màu nắng của niềm vui, và màu mưa cũng của niềm vui. Hãng chỉ giỏi lan man, suy diễn vớ vẩn, không khéo lại ''chụp mũ'' bạn anh Cơ Dân. Anh lại ru:
... con đáng yêu biết bao
với điệu ru muôn thuở
cho chiếc nôi bé nhỏ
như trôi trên vô cùng

có chi là lạ lùng
con chưa tròn giọng nói
sao tiếng ru nguồn cội
cứ hồn nhiên à ơi...

Hãng đã ru cả bằng thơ năm chữ với điệu ru lục bát! Anh ru tiếp bài thơ năm chữ ấy:
... mấy phần tâm hồn người
đã tượng từ lòng mẹ
mấy phần xa hơn thế
tự nghìn xưa, bao đời

cứ ru đi, à ơi
đến búp bê bằng nhựa
cũng có tim rực lửa
tỏa chất thơ tình người...

Hãng ru, ngỡ Cây Bàng đã lớn, đang chơi trò ru em với búp bê bằng nhựa. Anh ru lại tuổi thơ mình. Tre Trúc nằm mỉm cười sau lưng anh. Cô đã tắt máy băng nhạc từ hồi nãy. Tre Trúc biết con trai đã ngủ trong tiếng ru của chồng. Cô cảm thấy yêu chồng đến lạ lùng. Hạnh phúc giản dị, mà sâu thẳm vô ngần!
Sau những bài thơ ru ngọt ngào, Hãng lại giật mình suy nghĩ về gương sen màu vàng giữa những cánh Sen Đỏ. Ồ, phải cách điệu gương sen như một bán cầu thành một quả đất tròn màu đỏ. Quả đất tròn, đúng như trong tiểu thuyết của bạn anh Cơ Dân. Ồ, còn bản đồ Tổ quốc hình chữ S nữa chứ! Hãng bỗng thấy ngại với những ngộ nhận vô lối, mặc dù vầng trăng vàng giữa mười cánh Sen Đỏ chỉ là một hình tượng thơ ca. Hãng đang ở trong tâm trạng lo sợ nơm nớp đủ điều!
một đàn cò trắng phau phau
ra sông tắm mát, rủ nhau lên sào. Là...?

- Đàn cò ấy không phải là hình tượng những phụ nữ nông thôn chứ em! - Hãng đọc rồi nói với vợ.
- Cò gắn với ruộng. Ví với gì thì tùy, anh à - cô mỉm cười.



23



Gần đến ngày đầy tháng Cây Bàng, Vũ Thương Hoài - Đào Hải vẫn chưa tới thăm mẹ con Tre Trúc và Hãng. Họ chỉ điện thoại đến chúc mừng, nhờ Lúa Ngọc mua ở chợ giúp hai chiếc giò heo mang tới làm quà, theo quan niệm dân gian, để Tre Trúc thêm nhiều sữa. Thương Hoài bảo qua dây nói, cô đang phải công tác ở tỉnh Cà Mau. Mặc dù giữa Hãng với hai người bạn đã đính hôn này đâu có những sứt mẻ tình cảm nào, cả ba vẫn thấy ngường ngượng. Hãng sợ ông Ngà sẽ bôi nhọ Hãng trước mặt bà Hồng Ngọc và con gái để phân trần cho ông. Nếu như thế, Hãng ê mặt quá. Hãng hoàn toàn giấu bặt, cố nói khác đi, cả với Tre Trúc, lí do anh nghỉ việc. Vũ Thương Hoài thật ra chẳng đi công tác tận Cà Mau, vẫn ở tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cũng ngại gặp Hãng và thân thuộc của anh, nên nói dối như thế. Cô cho đó là sự nói dối vì tế nhị. Thật lòng, Hãng cũng không muốn vì ông Ngà, quan hệ bạn bè giữa họ lâu nay rất dễ thương, chân tình, phải bị đen tối theo. Theo lí trí, nếu vì thế sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ vốn đẹp, thì phi lí quá. Nhưng con người luôn bị bủa vây bằng các mối tình cảm chằng chịt, trong đó nặng nhất vẫn là quan hệ cha con ruột thịt. Chẳng lẽ anh phải tố cáo ông Ngà trước mặt con gái của ông để phân trần, thanh minh cho mình? Hãng đã từng lo lắng, anh sẽ bị cả Thương Hoài - Đào Hải toa rập với cha để bịt miệng anh. Thế triệt buộc! Ai yếu thế hơn, kẻ đó phải làm nạn nhân! Có điều, ấn tượng về Thương Hoài, cô gái một thời anh có yêu thầm, trong Hãng xưa nay vẫn là một cô gái tốt bụng, hồn nhiên, vô tư. Và điều Hãng băn khoăn mãi, lẽ nào Thương Hoài không biết thực chất bố mình! Cô không thể không biết nhờ đâu ông Ngà giàu có đến vậy. Nếu biết bố mình tham ô, móc ngoặc, ''bán quyền'' cho tư sản nước ngoài, cùng những thói xấu, sự thâm độc khác, sao cô lại xin bố cho Hãng vào làm ở công ti do ông làm giám đốc?
Hãng băn khoăn nhưng rồi anh cố lãng quên, chú tâm vào việc vợ sinh nở, con đầu lòng chào đời, đăng ở mục rao vặt trên báo để xin việc, rồi hí hoáy viết dăm bài báo như dự định để chứng tỏ mình không cầu an, nhẫn nhục kiểu tiêu cực. (Tinh thần Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thân Văn Nhiếp, Vũ Trọng Bình đâu? "Hạnh phúc là đấu tranh'' mà! Các Mác (Karl Marx) chả nói thế là gì! Hai nhà giáo vĩ đại, ông quan liêm khiết ngày xưa có phải chịu bi kịch do ý chí đấu tranh nội bộ nào đâu? Các Mác đấu tranh quyết liệt, ngay trong lòng xã hội tư bản, cũng không phải hi sinh chút nào cả). Trong trường hợp của Hãng, thật lòng anh cũng sợ bị làm nhục thêm, không khéo lại bị ''chụp mũ'', bị cả ''diệt khẩu''. Và Hãng đã bình tĩnh, quên được chuyện "sự cố" ấy một cách nhanh chóng. Thời của Hãng sống, có quá nhiều chuyện dơ dáy, tục tĩu trên báo chí, nên việc anh suýt hôn Hoài Nhớ, bị cô ấy làm nhục có tính toán, có kĩ thuật, nào đáng gì. Báo chí sau Đổi mới đã phần nào làm xã hội "chai" đi! Hãng cũng chua chát nhận ra, anh đành làm ngơ trước những sa đọa, nhũng nhiễu...
Không ngờ sáng nay Vũ Thương Hoài lại điện thoại đến. Cô cũng chỉ hỏi thăm sức khỏe cháu bé và vợ chồng Hãng, hoàn toàn không tỏ ý tiếc là Hãng đã bỏ việc như hai lần trước. Ấn tượng về Vũ Thương Hoài tốt bụng, thật ra làm sao bỗng chốc lại bị xóa nhòa trong Hãng được. Anh chỉ hơi lo ngại, dè dặt khi chuyện trò với cô qua điện thoại.
Một tiếng chuông chùa chợt vang lên trên sân thượng biệt thự. Hãng ra mở cổng. Anh vừa lo ngại vừa vui mừng khi thấy bên cạnh Lúa Ngọc là Vũ Thương Hoài - Đào Hải. Sau một thoáng bối rối, họ xem như chưa có sự cố gì xảy ra.
Vào thăm Tre Trúc và cháu Cây Bàng, Thương Hoài không kiêng cữ như thói tục xưa, khen rối rít.
Lúc ra lại phòng khách, ngồi ở ghế xa lông trước tủ thờ, bên trên có bàn thờ tổ tiên, Thương Hoài vẫn hồn nhiên, chỉ có Đào Hải không được tự nhiên lắm.
- Anh Hãng hạnh phúc quá! Cây Bàng quá kháu, giống anh như đúc! - Thương Hoài nói với ánh vui ở mắt.
Hãng mỉm cười ngường ngượng:
- Cảm ơn hai bạn. Mong hai bạn sẽ hạnh phúc hơn.
Lát sau, sau những câu thường lệ, Thương Hoài nói:
- Anh không thích làm ở chỗ bố em, em sẽ xin cho anh chỗ khác - cô không thay từ "cho" bằng từ ''giúp'', một cách vô tình tuy hồn hậu.
- Thôi ! Cảm ơn nhé ! Anh sợ phiền Thương Hoài thêm.
Hãng khiêm tốn, không muốn nói lên sự thật. Mọi người cứ ngỡ chính anh đã gây phiền ở công ti ông Ngà!
- Em muốn trao đổi riêng với anh Hãng về công việc một chút. Chúng ta ra ghế đá ở sân Sen Đỏ đi.
Không từ chối được, Hãng cùng cô xin lỗi rồi bước ra. Lúa Ngọc cũng qua biệt thự để gặp Trần Ngát Gió, sau khi Đào Hải hiểu ý bạn, rút mấy tờ báo dưới sàn bàn nước lên, cúi đầu đọc với dáng vẻ thư thả, tỏ ý muốn được một mình.
Trên bàn đá mài, vài chiếc lá từ giàn dây leo rụng xuống còn ướt nước. Cơn mưa chiều qua đã trôi hết bụi bặm. Hãng ngồi đối diện với Thương Hoài. Anh thấy sau vẻ hồn nhiên, vui vẻ của cô, rõ ràng vẫn lộ nét dè dặt.
- Em muốn hiểu rõ nguyên nhân anh bỏ việc.
- Bố không nói với Thương Hoài sao? - Hãng cảm thấy bị chọc vào vết thương tuy đã được gây tê.
- Có. Nhưng em không tin anh lại tệ vậy. Hoài Nhớ cũng đã có chồng con.
- Thật là anh đã tệ, suýt hôn cô ta vì cô ta gợi tình, chìa môi cho anh - Hãng đỏ mặt, cúi đầu nói - Nhưng cả cơ quan không ai tin anh dám làm hành vi thô bạo ngay tại văn phòng giám đốc, lúc cơ quan đầy đủ nhân viên đang làm việc. Họ nghĩ cô ta dùng chữ "hiếp dâm" là quá lời - Hãng thấy kinh sợ quá việc Hoài Nhớ tự bứt cúc rồi hô hoán - Anh có lỗi, anh chịu. Em cũng đừng nên nói với ai nữa. Chừng đó, anh cũng đủ nhục rồi. Lỗi tại anh mọi sự. Thương Hoài à, lẽ ra, để tình bạn chúng ta trong sáng mãi, đẹp mãi, em đừng giới thiệu, xin cho anh vào làm ở cơ quan bố em. Chúng ta thiếu kinh nghiệm ở đời - Hãng không ngờ anh nói trôi chảy đến vậy.
Thương Hoài im lặng suy nghĩ. Hãng chợt cảm thấy sự nhẫn nhục vừa rồi lại bùng lửa trong anh. Bất giác, anh buột miệng:
- Em nghĩ sao về bố?
- Câu hỏi nặng quá - Thương Hoài giật mình, nhìn xuống mặt bàn.
- Thôi. Anh xin lỗi. Chỉ buột miệng thôi - bỗng Hãng không kìm được, như một phản ứng tự vệ cho nhân phẩm mình - Em biết bố không tốt chứ? Tại sao bố giàu thế?!
Thương Hoài lại giật mình, ngơ ngác, rồi chợt hiểu:
- Đời nó thế. Em cũng muốn anh khấm khá tiền bạc. Không chỉ sống bằng đồng lương được. Phải kiếm thêm - cô bỗng bực mình - Chuyện gì ra chuyện ấy. Chẳng lẽ anh moi các chuyện không dính líu gì đến vụ Hoàng Hoài Nhớ?
Hãng nghe lạnh sống lưng, biết đã lỡ lời.
- Tiền kiếm thêm và vụ Hoài Nhớ chỉ là một - Hãng vẫn không nén được - Hãy hiểu giùm anh như thế. Đừng bình luận nữa. Chúng ta vẫn là bạn bè. Để còn là bạn bè, hãy hiểu giùm anh như thế. Đừng nói nữa, thêm sứt mẻ.
Hãng đi vội vào nhà. Thương Hoài ngồi lặng một lúc khá lâu dưới giàn hoa tím, lá xanh dày mượt. Thương Hoài hơi bất ngờ. Cô mơ hồ hiểu ra. Có điều, cô không thể hiểu được sự nhùng nhằng giữa lương tâm với bàn tay bẩn vì tiền. Có điều, cô cũng không ngờ việc nhận tiền mua chuộc của người nước ngoài đối với Hãng lại nghiêm trọng đến thế. Đó chỉ là việc làm ăn thôi, cơ hội, thực dân gì ở đó! Hãng làm ra vẻ giác ngộ cách mạng quá đáng! Hãng khẳng định lập trường giai cấp vô sản đến mức sống sượng và thiếu thức thời chăng? Ngôn ngữ và cách tư duy hơi quá ''tả'' chăng? Thương Hoài hiểu nhiều chuyện của bố hơn Hãng hiểu, và vấn đề là cách đánh giá, nhìn nhận các "chuyện" như thế nào. Cô nhìn nhận, đánh giá khác Hãng. Cô hối tiếc, thấy lòng tốt của mình lại giúp cho kẻ dở hơi là Hãng. Theo cô, Hãng đã gàn, đã moi chuyện để đỡ mặc cảm vì vụ Hoài Nhớ. Đúng là vớ vẩn! Cần quên đi chuyện vặt này. Thương Hoài không giận, không sợ Hãng. Cô chỉ hơi thất vọng về Hãng, cảm thấy, rồi thấy rõ, Hãng có tính thù vặt rất nhỏ nhen, muốn gỡ gạc vụ Hoài Nhớ! Thương Hoài cười nhạt một mình, thương hại và hơi khinh Hãng.
Thương Hoài đi vào nhà Hãng. Họ lại cố xem như chưa có sự cố gì xảy ra, cố hàn gắn lại tình bạn lâu nay.
- Ngày khẳm tháng cháu sắp đến rồi. Anh Hãng có mời
chúng em không ? - Thương Hoài nói một cách vui vẻ.
Hãng mỉm cười, cảm thấy yên lòng trước cung cách của bạn.
- Không thì mời ai nữa. Có nghe bảo, ở nông thôn, tự nghìn xưa đến giờ không phải mời vào dịp đó. Ai thích, cứ đến thôi, và cỗ cứ nấu, cứ bày cho đến khi hết khách... ờ...
- Nhưng khách phải đem gà, đem nếp đến chứ. Em có nghe người lớn nói vậy mà! - Thương Hoài cười rất vui.
Hãng cũng cười vui với em gái và hai bạn.
- Ấm áp tình làng nghĩa xóm thật đấy! - Đào Hải xúc động về một phong tục đẹp.
- Nhưng... Có điều ở thành phố không duy trì được. Ngay cưới hỏi, sinh nở cũng khác vài nét. Thành phố là dân góp tứ xứ mà - Hãng thấy trót gợi thêm chuyện, cố tự nhiên trong cách nói - Hai bạn nhớ đến nhé. Chủ nhật tuần tới.
- Em sẽ đến nấu nướng giúp cháu Cây Bàng.
- Thay mặt Cây Bàng, cảm ơn cô Thương Hoài - Hãng cảm thấy thật lòng vui trở lại, khách sáo với giọng tếu.
Khi tiễn em gái và Thương Hoài - Đào Hải ra cổng, khép cổng lại, cài then, Hãng cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Hóa ra con người dẫu thế nào vẫn còn tốt. Ngay cả Vũ Hồng Ngà, cho dù thâm độc, tham tiền thế nào, cũng không dễ nhẫn tâm. Làm việc ác cũng khó lòng chứ đâu phải dễ ! Loài người đã vạn năm vươn lên làm người chứ ít gì đâu. Hãng chỉ khéo tưởng tượng bi quan, nhìn với cái nhìn của kẻ bị dồn đến vực thẳm về con người. Vũ Thương Hoài lại không thể xấu như bố được, tuy nhận thức của cô còn sai lầm và hạn chế, đến mức thỏa hiệp nguy hại. Quay vào nhà, Hãng bước chậm, mừng cho tình bạn. Anh chợt thấy dạo này, anh đâm ra thích suy nghĩ về thiện, ác của lòng người và quả báo.
- Hãng! Lên phòng ông bảo cái này!
Nghe tiếng gọi, Hãng ngước lên bao lơn toà biệt thự. Ông Hương Chữ một tay tì lan can, một tay vẫy Hãng. Hãng cười, thấy ấm áp, tin cậy:
- Dạ vâng. Chuyện gì vậy ông?
- Lên đây! Có chuyện hay lắm.
Hãng quay lại phòng khách nhà lớn, đưa tay chào Ô Châu, Trắng Cát và Nghị đang học tập ở chiếc bàn dài. Anh bước lên cầu thang có lan can gỗ được chạm trổ đen bóng.
Ngồi đối diện với ông Hương Chữ, Hãng thấy ông dạo này có phần hồng hào hơn trước. Có lẽ mùa mưa dễ chịu hơn đối với ông. Nhận tách trà ông mới đẩy tới trên mặt kính, đặt vào lòng tay, Hãng nói chuyện thời tiết, nhưng sốt ruột chờ "chuyện hay" của ông. Cũng đã mấy lần thế này, nhưng chẳng bói đâu ra chuyện hay, mà chỉ toàn chuyện tầm phơ đỡ buồn của người già rỗi. Đã nhiều lần Hãng nhẫn nại ngồi nghe với lòng thương kính cảnh già rỗi của ông, chạnh nghĩ cũng như tuổi xế chiều bị cuộc sống chung quanh ''lướt qua, bỏ rơi'' của ông nội mình.
- Này Hãng, con bé Thương Hoài với chồng chưa cưới của nó mới đến phải không?
- Dạ, thưa ông.
- Sao chẳng thèm lên thăm ông bà lão này!
- Dạ, làm sao cháu biết.
- Thôi, đừng vờ nữa. Nó xin lỗi thay bố nó về vụ cho cháu thôi việc chứ gì. Thằng bố nó tệ lắm, ông biết quá lâu rồi.
Hãng ngạc nhiên nhìn ông, nghĩ thầm, được thế đã quý. Anh thưa :
- Làm gì có chuyện xin lỗi, xin phải. Cháu thấy không thích thì xin thôi việc, chỉ có vậy.
- Thằng Vũ Hồng Ngà ai lạ gì! Tay đó là dân mánh mung ngoài Lai Châu, chạy chọt đi Liên Xô học lõm bõm vài tiếng Nga rồi giỏi bốc phét. Nó trốn đi B chiến đấu!
Hãng ngạc nhiên thật sự:
- Uẵa, thưa ông, chú Ngà là dân Quảng Trị tập kết ra Bắc với ông thân của chú ấy chứ.
Ông Hương Chữ cười khẩy:
- Làm gì được thế! Nó người Lai Châu chính gốc. Vợ nó người Hà Tĩnh. Tập kết cái con khỉ mốc. Chúng là cán bộ chi viện, lẽ ra phải ra Bắc lâu rồi. Chi viện cóc gì đến hai mươi hai năm! Hai mươi hai năm nay, đào tạo cán bộ từ dân Miền Nam mấy không có. Lẽ ra phải đào tạo cán bộ để thay chúng lâu rồi. Cán bộ chi viện mà cứ ở lì trong này như Tây xâm lược! Kì cục! Mang tiếng quá!
Hãng chỉ ngồi cười. Hóa ra sự đời là vậy.
- Chúng làm bẩn hai chữ "giải phóng".
- Nói gì nặng thế, thưa ông.
- Chứ còn gì nữa. Con em gia đình thương binh, liệt sĩ cách mạng, học sinh, sinh viên, trí thức chống Mỹ, Diệm, Thiệu cả hàng triệu người. Sao chúng không đào tạo để họ làm chủ? Làm chủ là phải quản lí Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phải để cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam hoàn toàn trong sáng! Giải phóng Miền Nam là để nhân dân Miền Nam làm chủ, chứ có phải để làm nô lệ bọn Miền Bắc đâu! Lẽ ra, trên Miền Nam này, phải không còn một người dân, một cán bộ dân chính Miền Bắc nào, chỉ có quân đội, công an là còn người Miền Bắc, sau khi Mỹ cút, ngụy nhào. Lẽ ra, phải giải quyết nội bộ cho xong, rồi mới "mở cửa". Lẽ ra, cũng không nên "mở cửa" kiểu này, cũng không nên giải quyết bằng HO. Không "mở cửa" kinh tế, chỉ ''mở cửa'' về báo chí, văn hóa, khoa học - công nghệ và du lịch; Việt kiều chỉ học tập, làm ăn ở nước ngoài, chuyển giao công nghệ về giúp nước; đó là hai điều kiện đủ; còn điều kiện ắt có là, quân đội, công an trong tay cách mạng. Hội đủ những điều kiện ấy, thì ai làm gì được chế độ này nào?
Hãng chỉ biết ngồi cười, nghe ông Hương Chữ rủa. Thật lòng anh không muốn đụng đến chuyện "cái bụng" này, mặc dù từ năm mười tuổi đến giờ, anh đã nghe bao tiếng rủa như ông Hương Chữ rủa. Anh tin mọi điều xảy ra đều được ghi vào lịch sử của Tổ quốc. Lịch sử sẽ nghìn đời nguyền rủa "cái bụng". Hãng không ngờ hôm nay, lại vẫn chuyện "cái bụng"! Anh cứ ngỡ ông nói chuyện hay gì khác. Nhưng đúng là hay thật - Hãng lại tự bảo - Ừ nhỉ, sao không để trang sử cách mạng vốn rất oai hùng được chói sáng thêm bằng sự trong sáng như ông Hương Chữ hi vọng trong nỗi đau xót, đã thốt ra hồi nãy nhỉ? Ồ, ông cũng quên mất một thời bị Mỹ cấm vận, bị các sức ép...
Lúc xuống cầu thang để về nhà, anh thấy ông Hương Chữ hoàn toàn đúng. Có những điều rất đúng nhưng khó nói. Chửi người ta là "cái bụng", vẫn sợ người khác nghĩ lời chửi ấy cũng xuất phát từ "cái bụng" của mình. Không. Không nên chửi. Chửi một cách ba que xỏ lá với tâm địa ti tiện, ngụy tặc lại càng hạ cấp. Phải bằng mọi cách, bình tĩnh và tri thức, nhân nghĩa và đoàn kết, kiến nghị với Đảng, để đạt và giữ sự trong sáng ấy, trong giai đoạn cực kì phức tạp nhưng rất ổn định hiện nay.
Đã mười giờ rưỡi, Hãng còn phải nấu cơm, chờ Song Mây về làm thức ăn. Anh chợt băn khoăn về Lúa Ngọc, lúc gặp Gió ở hành lang biệt thự...
... Trong khi lúi húi vo gạo, đặt lên bếp ga, Hãng sực nhớ đến cuốn phim thuộc loại hay nhất của điện ảnh thế giới, "Cuốn theo chiều gió". Phim đã làm sinh động hình tượng tiểu thuyết của Ma-gơ-rét Mít-sen (Margaret Mitchell). Ma-gơ-rét đứng về phía Miền Nam bại trận để phản ánh cuộc nội chiến Nam - Bắc nước Mỹ (14). Hình tượng X-ca-lét (Scarlette) quá đỗi cương nghị, chấp
nhận hết mọi tủi hổ (!) để khẳng định mình và xây dựng lại trang trại. Nỗi đau bại trận đã hoàn toàn thay đổi tính cách X-ca-lét. Trong nỗi đau ấy có cả sự thù hận Miền Bắc nước Mỹ vốn tiên tiến hơn về công nghệ, về thái độ đối với nông nô, phần lớn là người da đen, so với Miền Nam nước Mỹ. Tất nhiên, đó chỉ là cuộc nội chiến của một nước mới thành lập chưa lâu, ô hợp về dân tộc, chưa có truyền thống gắn bó máu thịt của nhân dân. Dẫu sao, đó cũng là cuộc chiến tranh tư tưởng,"ai nhân bản hơn ai". Với một khoảng thời gian, lắng lại, cả Miền Nam lẫn Miền Bắc nước Mỹ đều yêu thích "Cuốn theo chiều gió", như cả dân tộc Việt Nam, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, đều giống nhau niềm yêu thích Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Thiếp, Đào Duy Từ... - mấy thế hệ kẻ sĩ bị phân hóa, xâu xé trong chiến tranh! Tất nhiên cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam không giống chiến tranh Nam - Bắc nước Mỹ, chiến tranh cát cứ Trịnh - Nguyễn, cuộc chiến dai dẳng dẫn đến chiến tranh do Quang Trung tiến hành để thống nhất Tổ quốc, chống sự xâm lược của Trung Hoa, rồi chiến tranh khôi phục ngai vàng vì quyền sở hữu phong kiến về vương quốc (!!!) của Gia Long (theo quan điểm lịch sử - cụ thể, như thế vẫn là chính nghĩa, vì dưới chế độ phong kiến, Đất nước và thần dân là tài sản và nộ bộc của một hoàng tộc [!!!]) (15). Nhưng phải gác lại các khía cạnh khác. Vấn đề ở đây là cách nhìn nhận, đánh giá hiện thực chiến tranh và hậu chiến. Vấn đề là sự lắng lại của quãng cách thời gian. Hãng bỗng thấy rộng lòng hơn với tầm nhìn rộng hơn ... Đúng, rất đỗi đúng câu nói của ông Hương Chữ vừa rồi: "Phải để cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam hoàn toàn trong sáng''. Mặt khác, mọi việc gỡ gạc của Pháp, Nhật, Mỹ và ngụy, mọi điều bôi nhọ, "đạo diễn'' để chứng minh cho "chân lí của cái bụng (lòng tư hữu tư sản, tham quyền lực, địa vị...)'' rồi sẽ được phơi bày. Hãng sáng lòng hơn với tầm nhìn xa hơn.
Hãng thấy cần hiểu sâu xã hội thời anh sống, lại mỉm cười với câu nói cửa miệng của anh Mai Tự, "để làm gì nhỉ!"... Anh cũng hơi giật mình, tự hỏi, chẳng lẽ tứ diệu đế của nhà Phật lại sai... lẽ thật về tham, sân, si và vô minh là không đúng... Anh liên tưởng đến đề tài nghiên cứu của Tre Trúc "Những nhu cầu cơ bản của con người và bản lĩnh văn hóa dân tộc".
Rất tình cờ, Hãng nghe Tre Trúc cười nhẹ sau lưng:
- Cơm sôi rồi. Để đó em coi lửa cho
- Ồ, phải cẩn thận chứ. Em cứ nghỉ đi, còn yếu mà.
- Em khỏe rồi. Có tập thể dục nhè nhẹ nãy giờ cho mau hồi phục.
- Con ngủ ngon quá. Rất ngoan, phải không? Em ngồi xuống đi cho khỏe - Hãng chỉ vào chiếc ghế ở sát vách bếp - Anh đang nghĩ về đề tài nghiên cứu của em, em xuất hiện ngay tức thì sau lưng - Hãng cười - Ờ, thì mình tập thể dục bộ não một chút cho vui nghe. Em có mệt không?
Tre Trúc ngồi xuống, mỉm cười. Hãng nhắc lại:
- Nhu cầu cơ bản có tính sinh vật: thở, ăn, uống, bài tiết, ngủ, ở, tình dục (truyền giống), mặc (lông, vẩy, da thích ứng, áo), ánh sáng mặt trời... còn nhu cầu có tính người là gì? Được chăm sóc (lúc bé, lúc bệnh, già lão), học hành, lao động (việc làm), nói, sự nghiệp, luật pháp (tổ chức sinh tồn), gia đình, phong tục, tâm linh, quan hệ (tình cảm cá nhân, cộng đồng, Tổ quốc, nhân loại), được tôn trọng và có quyền giữ gìn phẩm giá... Đúng không? - Hãng mở tủ lạnh, lấy ra bó rau muống, bỏ vào thau, ngồi lặt, vừa cố nhớ, vừa gợi vấn đề.
- Đúng. Một vế nữa. Đó là bản sắc và bản lĩnh văn hóa. Trong sự xung đột của các hệ giá trị văn hóa thời Mở cửa này, phải giữ gìn bản sắc và sống có bản lĩnh văn hóa. Mọi người sống có bản lĩnh văn hóa, cuộc sống sẽ nhẹ nhàng hơn, ít dằn vặt hơn.
- Sống có cốt cách hơn. Nghe vĩ đại quá nhỉ?
Hãng và Tre Trúc cười, vừa vui, vừa đồng cảm.
- Tham, sân, si và vô minh là bản chất của con người sao? "Bổn thiện" hay "bổn ác"? Trái cấm, nhất nguyên, không biện biệt thiện ác ? - Hãng nêu, dự định xới lật vấn đề cho vợ.
- Vấn đề là nhu cầu cơ bản. Đó là nguồn gốc của cái ác. Vì chưa bao giờ thỏa mãn hết mọi nhu cầu, như vốn được thỏa mãn về không khí, ánh nắng mặt trời, nước uống, kể cả cung vượt cầu ở khía cạnh tình dục trong quan hệ vợ chồng... Con người lại ganh tị, tham lam, thích quyền lực, ham "của lạ"... nên khổ, lại giết sự sống để sống (sát sanh)... nên ''đời là bể khổ''. Đúng là ''nhân chi sơ tính bổn ác''. Vấn đề là giác ngộ, giũ hết vô minh về quy luật xã hội và tự nhiên. Tham, sân, si phải chính đáng nữa. Khoa học - kĩ thuật sẽ chế được thực phẩm không có sự sống của sinh vật, kể cả thực vật. Theo hướng đó, bi kịch của nhân loại và của mọi sinh vật được giải quyết bằng niềm hi vọng vào khoa học tự nhiên và kĩ thuật, bằng lí tưởng nhân văn mới. Cơ chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế sẽ khống chế, loại trừ sự bóc lột tư bản chủ nghĩa. Đó là vấn đề diệt dục, cái dục vọng tư hữu. Phật giáo và chủ nghĩa xã hội khoa học gặp nhau ở đó, trên bình diện hiện thực trần gian, chỉ khác nhau ở tư tưởng khổ hạnh và không khổ hạnh - Tre Trúc bỗng mở rộng về khía cạnh khác - Văn hoá Việt Nam, cái cốt lõi vẫn là cái đình làng và đạo thờ cúng tổ tiên, là chủ nghĩa yêu nước, là phong tục Việt Nam đã được cách tân... - Tre Trúc thấy mình khỏe hẳn, nói khá nhiều vẫn không mệt, tuy diễn đạt chưa được trôi chảy như trước - Chính văn hóa sẽ chế ngự cái ác trong nhu cầu của con người, những nhu cầu bản năng - cô lại nói.
Tre Trúc hiểu những ý tưởng vừa rồi của mình, khi nói ra, lủng củng như thế, có gì đó chưa ổn, xem ra khá nguy hiểm, có thể dẫn đến những kích thích động não, nhưng có nguy cơ dẫn đến ngộ nhận nhiều hơn. Tre Trúc vẫn mỉm cười sau lưng Hãng, thử chờ xem anh suy nghĩ thế nào. Cô biết, đâu phải mỗi điều đưa ra lại cần phải giải quyết rốt ráo ngay. Rồi sẽ có lúc, một hôm nào đó gần đây, nhưng chưa phải tức khắc bây giờ.
Hãng đang bưng nồi cơm nhỏ đã chín xuống, đặt soong nước sôi lên bếp. Anh lại vặn cao nút chỉnh lửa.
Theo đà câu chuyện, Hãng quên bẵng vợ mới sinh nở dậy, anh tiếp tục đặt ngược vấn đề:
- Tự do và tư hữu, sự chiếm hữu tư bản tư nhân tư liệu sản xuất và sự chiếm hữu tư bản tư nhân các bộ não tuyệt vời của các nhà khoa học kĩ thuật, vẫn là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội (!). Thực tiễn cho thấy các nước tư bản giàu hơn, khoa học - kĩ thuật phát triển nhanh hơn, hàng hóa tốt, đẹp, phong phú hơn, tự do hơn, dân chủ hơn, mặc dù xã hội suy đồi và nhiều bạo lực hơn. Phải cạnh tranh và phải tôn trọng, đề cao sáng kiến, chủ kiến cá nhân. "Lí luận màu xám và cây đời mãi mãi xanh tươi" mà. "Thực tiễn là thước đo chân lí", em không nhớ sao? Hãy đọc chân lí ở cuộc sống, ở xã hội, chứ không chỉ ở sách vở! Tự do, dân chủ là nhu cầu người nhất!
Tre Trúc ngạc nhiên về chồng mình:
- Sao anh còn làm cụm tượng Sen Đỏ và Ngã năm Hòa Bình? - cô cũng chợt nhớ gần đây Hãng đã có thay đổi, xáo trộn về tư tưởng, nhưng cũng có thể anh ấy đang đùa.
- Bây giờ anh thấy "cái bụng" loài người rất tởm nhưng có lí trong thực tiễn - Hãng vẫn nhặt rau.
- Anh nói khiêu khích hay nói thật lòng?
Hãng cười xoà, quay mặt lại nhìn vợ:
- Nếu thật lòng thì sao?
- Em vẫn thấy Sen Đỏ và Ngã năm Kinh tế là đúng. Đó là bài thơ hòa bình - Tre Trúc nói đầy đủ hơn - Sen Đỏ: Văn hoá Dân tộc Việt Nam và Ngã năm: Kinh tế năm thành phần, trong đó, kinh tế quốc doanh xã hội chủ nghĩa là chủ đạo. Trong nền kinh tế năm thành phần ấy, cũng đã có sự cạnh tranh lành mạnh, tương tác, phối hợp với nhau... Về sự giàu có, phát triển nhanh của chủ nghĩa tư bản, đó chỉ là sự phồn thịnh của kẻ cướp bóc, đế quốc cướp bóc, kể cả cướp chất xám cho "cái bụng" của nó... Anh thấy không, như vậy, phải cắt vòi bạch tuộc xuyên quốc gia mới có hòa bình thật sự, vĩnh cửu. Còn tư sản xuyên quốc gia như hiện nay là còn cách mạng, còn chiến tranh chống đế quốc - Tre Trúc nói - Thực tiễn của cách mạng vô sản còn vận động đến nghìn sau. Và không có tiến trình vận động nào không có thoái trào, thăng hóa. Nếu hiểu Đạo là con đường, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn là Đạo. Đó là em mượn cách nói của tôn giáo, không phải tôn giáo hóa chính trị. Anh thử hình dung tương lai của toàn thế giới, nước nào cũng có nền kinh tế năm thành phần như vậy xem... Và nhân số thế giới được hạn chế một cách nhân đạo, vì nhân đạo, nhất là ở các nước quá đông dân số. Chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn là chế độ ưu việt nhất, nếu chế độ sáng tạo mới những giá trị mới trên cơ sở những nguyên lí của chủ nghĩa xã hội khoa học, đồng thời trên cơ sở tiếp thu, thừa kế, phát huy cho bằng hết, một cách tốt nhất, có đãi lọc, các tinh hoa của chủ nghĩa tư bản, nhất là cơ chế dân chủ, chấp nhận mâu thuẫn không đối kháng, và tính vượt trội, hơn hẳn về năng suất, hiệu quả sản xuất sản phẩm vật chất cũng như sáng tạo giá trị, sản phẩm tinh thần... - Tre Trúc nhận ra cô đã hơi xúc phạm chồng khi nêu ra một vấn đề quá sơ đẳng và rất cổ điển như thế. Cô cười xòa - Ồ, anh đã quá tâm đắc, đã tạo hình theo ý hướng đó... Nhưng sao bây giờ... - Tre Trúc ngập ngừng, giọng nói bất chợt như hướng vào bên trong mình, như muốn xua đi một thoáng đen tối của ý nghĩ. Cô nói tiếp những ý tưởng theo mạch chuyện - Rất cần đề cao, khích lệ sáng kiến, chủ kiến cá nhân! Rất cần phê phán thói giáo điều, minh họa chính trị một cách rẻ tiền! Điều đó cần thiết biết bao! Nhờ thế mới phong phú, đa dạng... Em rất thích một câu nói của văn hào Von-te (Voltaire): "Mặc dù khác ý kiến với bạn, tôi vẫn đấu tranh đến chết để giúp bạn nói lên tư tưởng của chính bạn"... - Tre Trúc lại cảm thấy, thoáng đen tối đã cố xua đi đang khiến cô vừa xấu hổ, vừa bực mình. Cô như thể buột miệng, mặc dù ý thức rõ, thoáng đen tối ấy cơ chừng là ghen tị - Em thấy Vũ Thương Hoài đã làm anh dao động. Thương Hoài thật lòng không kính yêu bố mẹ đâu. Nó chỉ cùng tư tưởng tư lợi, thứ tư tưởng bóc lột kiểu quan lại và tư tưởng lừa gạt, xảo trá của bọn mánh mung, để lợi dụng bố mẹ thôi. Nó từng bảo "cướp ngày là quan" như trong ca dao mà!
Hãng giật mình, ngừng lặt rau, quay nhìn Tre Trúc:
- Em nói thật chứ? Kẻ cướp thực dân, đế quốc, rồi kẻ cướp quan lại...
Một tiếng chuông chùa vang ngân từ sân thượng biệt thự. Tre Trúc nói:
- Song Mây có lẽ đã về.
Hãng vội lau tay, đi nhanh ra mở cổng. Chỉ một mình anh Cơ Dân với nụ cười rộng hết cỡ dưới cái bớt to đậm trên mép phải, trông thật hài hước, như thể chừa râu vểnh một bên (cái dị tật tướng mạo không hợp tính cách của anh chút nào cả!).
- Mình xin được việc cho Hãng rồi! - anh Cơ Dân nói.
Hãng mừng và quá cảm động:
- Việc làm ở đâu anh?
- Điêu khắc tại nhà một người bạn. Có điều, lương ít quá!
- Khổ nỗi em vẫn thích kiến trúc. Điêu khắc là phụ - Hãng hơi thất vọng - Đúng ra em thích cả hai, nhưng...
- Hiểu rồi. Thôi, chiều ghé sang em, sẽ bàn thêm.
Hãng lững thững vào nhà. Tre Trúc đang à ơi ru con. Hãng nói Song Mây chưa về, rồi xuống bếp lặt rau tiếp. Anh lại nghĩ về Vũ Thương Hoài, không tin Tre Trúc nhận xét đúng. Có điều, con cái kẻ cướp, kể cả quan lại (bọn ''cướp ngày''), vẫn có thể là thầy tu. Hãng vẫn tin vào sự nhận thức chân lí, sự thật, chính nghĩa, của con người nói chung. Anh vẫn tin con người nói chung là tốt, biết hướng thiện, có khả năng nhận thức và nhận thức lại mọi điều. Kẻ cướp hồi tâm, có khi đức hạnh hơn cả ni sư, và ni sư lao vào thực tiễn lao động, đấu tranh trong đời thường, vẫn giữ được đức hạnh, đức hạnh ấy mới đáng giá, sáng giá. Ồ, Hãng nhận ra, lúc này anh hơi hằn học nhỏ mọn.
Tre Trúc lại xuống bếp với chồng. Cây Bàng lại ngủ ngon. Hãng ngước lên, mỉm cười thương yêu với vợ, hơi se lòng khi thấy ngực áo của Tre Trúc ướt sữa. Bất chợt, anh thoáng nghĩ đến hình tượng người mẹ trẻ với cảm hứng tạo hình.
- Vậy đập bỏ cụm tượng Sen Đỏ đi anh. Hãy sáng tạo hình tượng ''Cái Bụng'' chưa từng có thế vào - Tre Trúc nói dửng dưng với ý mỉa mai, đùa chồng.
- Anh khiêu khích em đấy mà. Vẫn Sen Đỏ và Ngã năm thôi. Chẳng biết số phận mình phải đi ngả nào đây. Ngả nào cũng tốt, phải không?
Hãng tiếp tục gọt khoai, củ dền và cà rốt, lại thầm trách mình đã ví von quá nặng về Thương Hoài, cô gái tốt bụng có một thời Hãng thầm yêu và đến lúc này, cơ hồ vẫn còn trong tim anh nỗi tình thầm ấy.
Lại một tiếng chuông trên sân thượng. Hãng mới ra khỏi cửa nhà, đã thấy anh Cơ Dân mở cổng cho Song Mây. Song Mây dắt chiếc Sa-li vào. Không thấy nụ cười tươi tắn hồn nhiên năm ngoái trên gương mặt đẹp và duyên của cô nữa.
Bước vào nhà, Hãng nói vui với Tre Trúc:
- Hai vị nổi tiếng về ''Cái Bụng'', Đức Phật Di Lặc và Ông già Nô-en (Noel), chỉ là biểu tượng lạc quan và mừng vui thôi. Hai ''Cái Bụng'' ấy hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa cá nhân vị kỉ!
Hai vợ chồng trẻ đều ngẩn người với liên tưởng. Song Mây vẫn lặng lẽ cất cặp da, chuẩn bị xuống làm bếp, cơ hồ không còn khả năng cảm nhận niềm lạc quan, vui sống lành mạnh, nữa là chuyện như đùa này. Hãng đành nói tiếp:
- Được ban phát, sự lạc quan và niềm vui ấy có lớn lao, sâu sắc không nhỉ? Không. Người ta vui mừng vì Chúa ra đời... - Hãng lại hỏi rồi tự trả lời - Theo kinh Phật, Đức Phật Di Lặc chưa xuất hiện. ''Cái Bụng'' ấy chỉ là hình ảnh của những mơ ước trong óc một bộ phận người Trung Hoa - anh lại mỉm cười với vợ - Em biết không, các thiền sư hiện đại rất bất bình về việc tạo ra những pho tượng Đức Phật Di Lặc như thế (16).
Bước lững thững trên hành lang, Hãng lại rơi vào suy tư. Anh nhớ lại những câu mắng mỏ của ông Hương Chữ. Thật lòng Hãng cũng chưa rõ, tình hình Miền Nam hiện nay có cần sự chi viện nhân lực là cán bộ Miền Bắc không. Có điều, anh biết chắc, không phải cán bộ chi viện nào cũng tha hóa đến thối nát như ông Ngà. Đặt vấn đề như thế, thêm mất lòng và đau lòng... Hãng thở dài, bước lui, bước tới. Nắng trưa ngoài sân chói gắt.



1998



24



Tết Nguyên đán đã qua rồi.
Tre Trúc ngồi bồng con nhìn ra khung cửa nắng. Tháng giêng vàng chói chang với độ nóng khá oi bức đang bao trùm lên thành phố. Cả khuôn viên biệt thự Sen Trắng cũng như được quét lên màu vàng nóng ấy. Qua một khoảng sân khá rộng, Tre Trúc ngỡ các hoa văn lá sen, đoá sen trắng trên nền lam đậm ở bên hông trái toà nhà đang vào mùa hè, với làn hương ca dao xưa thẳm. Bất giác, Tre Trúc bồng con ra đứng ở bậc cửa. Cây Bàng tì cằm vào vai mẹ, nhìn vào bàn thờ tổ tiên rồi đăm đăm nhìn cây đèn bàn màu đỏ trên bàn làm việc của ba, môi vẫn bú như thể còn khát sữa, mặc dù vừa ăn xong chén cháo nghiền rất mịn, lại bú nước trong bình bú để tráng miệng. Tre Trúc vỗ nhẹ vào mông còn đậm bớt xanh sơ sinh của con trai, ru khẽ một bài lục bát với cách gieo vần điệp rất cổ, với kết cấu rất gợi hình, ngỡ ánh mắt nhà thơ dân gian nào đã chiêm ngắm từ ngoài vào bên trong, từ trong ra bề ngoài của loài sen dân dã: "...lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng, nhụy vàng, bông trắng, lá xanh..." . Tre Trúc muốn ca dao ngấm vào trái tim đỏ thắm bé bỏng của con, với vần điệu lục bát của tâm thức dân tộc.
Buổi sáng, im vắng lạ lùng, chỉ thỉnh thoảng vọng từ ngoài hẻm vào tiếng xe gắn máy ai chạy vội. Tre Trúc bồng con đi tới đi lui trên hành lang nhà, bước chân chậm rãi. Sực nhớ Cây Bàng mới ăn no, cô bồng con vào nhà, đặt con nằm trên chiếc xe đẩy, đẩy con ra lại hành lang.
Tre Trúc mỉm cười ngắm con trai. Với gương mặt của Hãng lúc còn trẻ thơ, Cây Bàng chăm chăm nhìn mẹ. "Nói chuyện" với con một lúc với những câu âu yếm, Tre Trúc bỗng mong Hãng về nhà, mặc dù anh mới ra khỏi nhà chưa lâu.
Hãng đã phải đến xưởng vườn điêu khắc của người bạn luống tuổi thân thiết với anh Cơ Dân, từ hơn bảy tháng nay. Những năm tuổi nhỏ anh đã yêu thích điêu khắc, thời sinh viên anh đã đi học đồng thời tự nghiên cứu thêm về nghệ thuật tạo hình này. Bảy tháng qua, anh cùng nhà điêu khắc ấy hết nặn rồi lại đục với chất liệu đá và thạch cao. Gần đây, anh lại cùng nghệ sĩ già sáng tạo lại các bức tượng La Hán chùa Tây Phương từ các tảng đá. Cũng với đá, hai thầy trò còn tạc lại tượng nhà mồ Tây Nguyên - những pho tượng gỗ lõa thể đàn ông, đàn bà - trần trụi, cô đơn, thao láo đôi mắt kinh ngạc về thân phận con người: sinh ra trần trụi, chết đi cũng trần trụi! Sự trần trụi lúc về lại lòng Đất sao héo hắt, quắt queo, sao buồn thảm thế! Hãng bàng hoàng trước các pho tượng của tâm thức nghệ thuật bi đát ấy ở từng nhát đục. Nhiều lần anh về nhà với nét mặt khắc khoải, có khi thảng thốt, đến nỗi Tre Trúc phải gạn hỏi để chia sẻ cùng anh.
Bảy tháng, Hãng vẫn cùng người nghệ sĩ già đeo đuổi ý tưởng: nền tạo hình gỗ của Kinh và các nhân tộc đồng bào cần học thêm ở nền tạo hình đá của Chăm ruột thịt. Hãng đâu chỉ kiếm sống. Nhưng dù sao, với chút tiền khi nhiều khi ít nhưng đều đặn, đúng kì, Hãng, Tre Trúc, Cây Bàng cùng Song Mây cũng vượt qua đận khó. Và dù sao, Tre Trúc cũng ngọt ngào với hạnh phúc, chỉ ngỡ ngàng với sự bỗng chốc trở thành một người mẹ trẻ.
Hãng và nhà điêu khắc ấy không nỡ để các tượng cổ phải mục đi, nên đành "phục chế" với chút ít sáng tạo mới, còn Tre Trúc vẫn chăm con, thỉnh thoảng bà Lụa Hà hay Song Mây hoặc Ô Châu, Trắng Cát, Hoài Hương trông hộ, nhưng cũng tiếp tục việc nghiên cứu đang dở dang. Tre Trúc chỉ muốn có những phát kiến mới trên các trang sách tham khảo. Cô không muốn phải hi sinh như Hãng và nghệ sĩ già kia. Văn bản chữ có thuận lợi của nó. Máy sao chụp và kĩ thuật in ấn hiện đại đã giúp văn bản chữ cổ không cần sự hi sinh để phục chế. Tre Trúc cũng muốn đi làm, kiếm thêm tiền để trang trải, nhưng khi đến cơ sở Kim Tràm, Tre Trúc đã phải vin vào cánh tay Hãng, để có thể khỏi ngã qụy trong lần gặp lại đầu tiên!
Tre Trúc còn nhớ mãi đôi mắt một mí rất đặc trưng của người Mông Cổ ở ông Kim, sáng đó. Hai chiếc lá răm đối xứng, hơi xếch về phía thái dương, theo sự phỏng đoán rất buồn cười của thuật tướng số là rất đa tình đa cảm, sáng đó, bỗng sắc lẻm, và tia nhìn có vị cay. Đúng là đôi mắt lá răm dại, không biết mọc để làm gì nhỉ! Tre Trúc có cảm giác bất nhã đó sau câu chuyện với ông Kim, cô Hương Tràm. Đó là cảm giác tồi tệ rất bất giác, thật đáng tự trách, cho dẫu ông Kim tệ tình nói:
- Chúng ta đã có người thay thế cô Tre Trúc từ gần mười mấy tháng nay, từ lúc cô ấy xin nghỉ hộ sản. Bảo cô Tre Trúc cảm phiền đi nơi khác xin việc - cô Hương Tràm dịch lại, nói thêm - Rất tiếc! Bao giờ cần, chúng tôi sẽ mời cô trở lại làm việc với chúng tôi.
Tre Trúc còn đau xót vì những bức ảnh có chú thích bên dưới được treo quanh tường để tiếp thị. Đó là những bức ảnh màu chụp các nghi thức lễ hỏi, lễ cưới rất đậm nét phong tục Việt Nam, cả cách may mặc, đồ sính lễ, thức ăn, cách bày cỗ, các nghi lễ, cách trang hoàng. Tre Trúc đã bỏ ra mấy tháng trời để thiết kế lễ hỏi, lễ cưới rất cổ xưa, rất Việt Nam với những chất liệu, thiết bị hiện đại. Tre Trúc muốn khách mời và cô dâu, chú rễ trong lễ hôn nhân có cảm tưởng rất ấn tượng về nguồn mạch nghìn xưa nối với nghìn sau. Cô đã thành công, nhưng ước vọng thành phố Hồ Chí Minh ở lĩnh vực này được xưa sau đậm đà bản sắc như thế, lại thế này đây! Đó không còn là thành công từ ước vọng, từ quá trình trăn trở, suy ngẫm, cách tân của Tre Trúc, mà của Kim Tràm! Cô lại không được làm việc ở cơ sở Kim Tràm nữa! Cô bị từ chối nhẹ nhàng, thẳng thừng một cách nhẹ nhàng! Chừng như ông Kim lẫn cô vợ trẻ Hương Tràm của ông không hề có ý niệm gì về quyền tác giả. Họ thuê cô thiết kế có giải trình, và cô đã sáng tạo, cách tân rất riêng, hơn cả yêu cầu của họ, họ cũng trơ trơ. Với họ, họ đã mua sức lao động của cô, còn cô làm thuê, nghĩa là đã bán. Thế là xong! Chẳng quyền tác giả gì ở chuyện cách tân, thiết kế này cả.
Giữa thời hiện đại, Tre Trúc bị trở thành một tác giả cách tân vốn cổ vô danh như muôn triệu triệu tác giả dân gian khác. Đau xót, rồi vui vui buồn buồn. Đau xót vì quan niệm về tác quyền hiện đại. Vừa vui vừa buồn vì trở nên vô danh như xưa xa chỉ truyền mắt, truyền miệng về văn hoá.
Tre Trúc chẳng hưởng thêm đồng xu nào nhưng cơ sở Kim Tràm lại mỗi ngày mỗi thu hút khách hàng ở dịch vụ đám hỏi, đám cưới. Chất xám, mồ hôi lúc bụng mang dạ chửa của Tre Trúc vẫn tiếp tục hái ra tiền cho Hàn kiều Mỹ có tên Giêm Kim và người vợ Việt Nam của ông là Hương Tràm.
Lúc ra về, Hãng cũng vui vui buồn buồn nhưng lo âu về việc làm nhiều hơn: Hai vợ chồng đều thất nghiệp với một đứa con dại mới được mấy tháng.
- Cô Hương Tràm là vợ làm ăn hay vợ yêu đương vậy, hở Tre Trúc?
- Không rõ được. Em thấy cũng quấn quýt tình cảm lắm. Có thể khái niệm "vợ làm ăn" man rợ ấy vẫn còn trong thực tế!
Nỗi đau từ sáng hôm đó đến bây giờ còn âm ỉ trong tâm hồn Tre Trúc. Cô sợ nỗi đau sẽ làm chua nguồn sữa ở hai bầu vú, làm chua những tháng tuổi sơ sinh của Cây Bàng. Tre Trúc cố quên đi bằng những bài hát vui, những bài tập thể dục nhẹ, và đọc sách, ngẫm nghĩ, ghi chú. Tre Trúc vui mừng khi nhìn Cây Bàng bụ bẫm nhờ nguồn sữa ngọt từ hai bầu vú được khen là mát sữa.
Lúc này, Cây Bàng đã say sưa ngủ trên chiếc xe nôi. Tre Trúc say sưa ngắm nghía con trai cưng bé bỏng với tấm lòng người mẹ. "Có con rồi mới có cha, có cháu trong nhà rồi mới có ông", câu lục bát dân gian rất triết lí này của ai nghìn xưa nhỉ. Mỗi người chữa một ít để nó trở thành không của ai cả, mà của văn học Việt Nam. Cũng như bài ca dao về sen trắng, bài lục bát hai câu này đã là sữa mẹ, Mẹ Việt Nam.
Tre Trúc bỗng cảm thấy xấu hổ vì sự ao ước được giành lại quyền tác giả cách tân từ tay Kim Tràm. Xem ra có vẻ háo danh, muốn lưu danh ! Xem ra còn nặng "óc tư hữu" chính đáng (đâu phải tư hữu tư liệu sản xuất, bóc lột giá trị thăng dư!). Hơn nữa, rõ là thiếu thực tế quá!
Tre Trúc nhìn biệt thự Sen Trắng, chẳng có biển đồng, biển đá nào ghi tên kiến trúc sư và năm sáng tác, thực hiện, cùng tên tuổi kíp thợ nào!
Nhưng ca dao bây giờ vẫn có tên tác giả. Thực ra đó là thơ bác học được viết bằng thi pháp ca dao, như lục bát Nguyễn Bính. Thực ra vẫn có cơ quan lưu chiểu tạo phẩm, bảo vệ tác quyền, kể cả quyền cải tiến kĩ thuật, quyền phổ biến kinh nghiệm cá nhân, tập thể, quyền phát minh khoa học và công nghệ.
Tre Trúc vẫn âm ỉ nỗi đau vì vốn chất xám của mình đang đẻ ra lợi nhuận cho một Hàn kiều Mỹ và Hương Tràm. Chất xám là vốn. Vốn tri thức. Vốn trí tuệ. Vốn động não, vốn lao động cật lực trên sách, trên giấy, trên băng hình...
Hãng và Tre Trúc lại đang thiếu tiền, thiếu vốn - những tờ giấy, những kim loại vô nghĩa được quy ước có giá trị. Vàng và tiền không có giá trị tự thân, nhất là tiền! Vàng còn đẹp, còn chói ngời tự thân nó. Giấy vô nghĩa thật sự. Giá trị trang trí, trang sức của vàng, sự vô nghĩa của giấy-in-tiền đã trở thành vốn, cô đang cần, Hãng đang cần để cống hiến được vốn chất xám của mình. Tiền, vàng là tín tệ. Tín tệ là giá trị kết tinh của sức lao động được quy ước hoá trên kim loại ấy và giấy ấy. Muốn cống hiến phải có vốn - giá trị từ sức lao động trước đó đã quy đổi?!
Nhưng mới ra trường, mới khởi đầu đi làm việc, đã lao động có tiền bao giờ! Lao động trí tuệ đã bị đoạt, đoạt một cách trơ trơ không thương xót, rất đương nhiên! Một luật đời vô minh và man rợ! Ồ, thôi, hãy chấp nhận thực tế phi lí để sống nhẹ nhàng hơn chăng?!
Tre Trúc cười buồn, cam chịu, mơ ước giá như cõi đời văn minh và công bằng hơn, có luật pháp sâu sát hơn! Nếu thế, cô sẽ kiện Kim Tràm. Họ sẽ phải trả tiền cho cô tính từ năm ngoái đến một trăm năm sau, dù họ phải rời Việt Nam vào ngày mai. Tre Trúc ngồi suy tưởng vẩn vơ, vớ vẩn, nhìn ra sân và cổng Sen Trắng. Không, không vẩn vơ, vớ vẩn đâu. Cơ bản, cốt lõi vấn đề là đúng chứ! Đúng, nhưng hóa ra buồn cười, cái buồn cười của người nghĩ quẫn?!
Ồ, trên thế gian này, có bao nhà khoa học, tác giả văn chương, bao người phát kiến bị tước đoạt sức lao động kiểu này nhỉ?! Họ còn bị bóc lột bởi nhiều cách khác nữa!
Tre Trúc lại nhìn ra nắng tháng giêng theo lịch mặt trăng. Hương ca dao từ hoa văn sen trắng ở chân tường cơ hồ thoảng thơm dìu dịu. Và lục bát chân quê ngan ngát hương triết lí. Quả là đứa con trai của Tre Trúc đã sinh ra trong cô một người mẹ, biến cô thành người mẹ như sau một lần thoát xác, tằm thành bướm. Cô lại khẽ ru. Một nội dung rất tươi tắn, với sức mạnh dịu dàng của sự khẳng định phẩm chất sen, nghe êm êm buồn buồn trong tiếng ru. Không phải buồn bã, buồn rầu, buồn chán, buồn đau... Đó là điệu ru ngủ. Buồn ngủ! Cái buồn của cơ thể cần ngủ ngon giấc. Không phải cái buồn tình cảm, tư tưởng. Mặc dù con đã ngủ, Tre Trúc cũng thích ru để hương sen ca dao tươi tắn, mạnh mẽ dịu dàng đi vào giấc ngủ con.
Lát sau, lúc Tre Trúc đang nghĩ về Hãng (có lẽ đang tạc tượng lên đá), Cây Bàng mở mắt, ngơ ngác, khóc đòi bú tuy cô biết con còn đang no. Chiếc tã đã ướt đầm từ lúc nào.
- Cậu Gióng tè bậy quá nghe - thay tã cho con, Tre Trúc nựng - Lớn như thổi nghe Cậu Gióng! Cơm và cà mẹ có sẵn rồi. Lớn như thổi nghe. Sông Sài Gòn rộng lắm đó nghe, lựa khúc nào ngọt thì uống cho cạn. Cạn rồi lại làm đầy giùm mẹ.
Cậu Gióng có tên Cây Bàng lại tè ướt thêm một chiếc tã nữa. Tre Trúc mỉm cười với con trai, bất chợt giật mình nghĩ, mình có phạm thượng với huyền tượng lịch sử không nhỉ? Có lẽ không. Đứa trẻ Việt Nam nào cũng phải là Thánh Gióng.



25



Gần hết mùa khô, cuối tháng ba theo lịch mặt trời, Nguyễn Đồng Triệu, con trai ông Nguyễn Hà Đông, cũng là cháu ruột bà Lụa Hà, đã góp vốn vào cửa hiệu vật liệu xây dựng của một nhóm kiến trúc sư, kĩ sư trẻ, trong đó có Triệu Nắng Thắp, Phùng Hãng. Nhóm gồm bốn người, ngoài Hãng và Thắp, còn có thêm Trưng Đường Sóng và cô gái Đoàn Rừng Sim Mua. Nay Triệu góp thêm ba cổ phần, mỗi cổ phần đến ba chục lượng vàng! Ngoài Triệu có vốn sẵn, còn bốn người trẻ tuổi kia đã phải vay, bán xe, bán nhà, xin bố mẹ.
Hãng phải vay ông Hương Chữ số vàng đã mua nhà để xe dạo nọ.
Ông Hương Chữ không hề kinh doanh kiểu tư nhân bao giờ, tuy mang tiếng là thuộc nòi tư sản. Kinh doanh sách thời bao cấp vốn là việc làm có tính viên chức nhà nước. Ông chỉ là một viên chức mẫn cán cho đến lúc về hưu. Ông Hương Chữ suốt mấy tháng trời cũng cố gặp bạn hưu trí để xin việc cho Hãng nhờ sự quen biết của họ, nhưng cũng không đi đến đâu. Ông đành cho Hãng vay lại số vàng ấy với sự áy náy. Ngoài ra ông chẳng giúp được Hãng chút gì khác trong lĩnh vực tư doanh này.
Nguyễn Đồng Triệu đã đề nghị góp cổ phần để mở rộng mặt hàng, xin thành lập cơ sở thiết kế , nhận thầu xây dựng, khi cửa hàng và kho vật liệu xây dựng tạm ổn định, bắt đầu có thu nhập. Cửa hàng có tên Sen Đỏ, nay Triệu đề nghị đổi lại là Sen Phố, lúc làm đơn xin mở rộng kinh doanh. "Phố" là chữ lót của cái tên Lương Hoài Phố Thị, tên của vợ Nguyễn Đồng Triệu. Hình tượng của loài sen phố phường?
- Phố phường là chốn đắc địa của nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc, nhưng đã Sen Đỏ thì Sen Đỏ luôn. Sen nào cũng là sen, có sao đâu! - Hãng hơi bực mình trong một cuộc họp mặt.
Với tư cách của người có đóng góp ba cổ phần, một Nguyễn Đồng Triệu giá trị gấp ba lần Phùng Hãng, Triệu nói rất tự tin:
- Sen là các bạn, Phố là vợ mình. Phải là Sen Phố.
- Bên này bốn người bốn cổ phần, Triệu chỉ có ba cổ phần thôi mà - Thắp cũng cảm thấy bất ổn trong sự hợp tác này.
- Thì mình thêm một phần! - Triệu nói, với giọng người thừa vốn kinh doanh.
Một cổ phần những ba chục lạng vàng. Sóng phải chạy bay tóc trán, mòn chân mới vay đủ, và vẫn nơm nớp lo âu vỡ nợ. Nghe Triệu nói, Sóng thấy sao nhẹ quá. Đúng là con cái tư sản sướng thật! Bởi biết Triệu còn là giám đốc một công ti trách nhiệm hữu hạn gồm nhiều cơ sở "vệ tinh" khắp thành phố, Sóng thấy hơi ngại. Anh định đề nghị hoãn cuộc họp. Chợt thấy ba người bạn còn lại cũng cùng một ý với anh, Sóng cảm thấy yên tâm. Cuối cùng cuộc họp cũng hoãn lại thật.
- Cô Sim Mua và mấy ông làm ăn thiếu quyết đoán. Chán quá! Thì giờ là tiền bạc. Thời buổi chạy đua mà lề mề quá rồi đó! - Nguyễn Đồng Triệu nói với ý gay gắt nhưng giọng nói lại cố từ tốn, dịu nhẹ.
Dẫu từ tốn, dịu nhẹ, nhưng nghe Triệu than phiền hơi kẻ cả, bốn người bạn cùng cảm thấy khó chịu.
Ngồi lên chiếc Đờ-rim, Triệu bây giờ không vọt đi hệt một tia chớp như dạo nào nữa. Triệu đang cố gắng ra vẻ ông chủ. Khi thay mặt anh em ra tiễn chân Triệu, Thắp có nói, quyết đoán không phải là bộp chộp, nông nổi, mong sẽ gặp lại Triệu. Bước vào, Thắp ngừng lại, đứng trước cửa hàng, nhìn lên tấm biển mới treo lên được hai tháng sau bảy tháng trời bàn bạc, chạy vốn, xin giấy phép kinh doanh. Thắp lại nhìn tấm biển nhỏ treo ở cánh thẻ một bên cửa sắt. Đó là tên và học vị của bốn anh em bè bạn, cỡ bằng tấm biển của các bác sĩ trước phòng mạch tư nhân.
Hãng nói khi Thắp bước vào, ngồi xuống ghế:
- Có nên đổi thành Sen Phố không? Và thêm tên của cử nhân tiếng Anh Nguyễn Đồng Triệu nữa? Nhân nhượng thế thì đau quá.
- Sen Đỏ là do Hãng đề xuất. Mình hiểu ý nghĩa hình tượng ở sân biệt thự Sen Trắng. Có điều anh em mình cần tiền vốn. Tiền! Có lẽ phải đành nhân nhượng chăng? - Sim Mua, với chất giọng phương nam, đáp rồi hỏi lại.
- Tay Triệu này tốt số quá. Mới hai mươi tám tuổi đã giàu có, làm giám đốc một công ti cỡ đó. Triệu còn muốn hùn hạp với nhóm mình làm gì nhỉ? - Sóng dè dặt, thắc mắc.
- Kinh doanh vô bờ bến mà! Giàu, lại muốn giàu thêm. Các nhà tư sản cỡ bự còn hợp tác với nhau thành tập đoàn tư sản xuyên quốc gia... - Thắp không nói lên một trực cảm về Triệu và sự cảnh giác về các thủ đoạn "cá mập" trong kinh doanh anh đã đọc được trong sách -... Còn bọn mình, ki cóp từng đồng tiền lẻ, không dám "làm hết mình, chơi tối đa" để suốt đời làm thuê cho tư sản, tiêu thụ hàng hoá cho tư sản thêm giàu đâu! Bọn mình phải vay, mượn, bán sạch xe cộ, nhà cửa, như thể đánh cược cả tính mạng mình và vợ con!... Đời đã thế, thì phải vậy! Phải làm hết mình, ăn tiêu kiệm ước, để tích lũy vốn! - Thắp nói - Mình liên kết với Triệu, chẳng qua bởi cần có tiền vốn lớn hơn...
Hãng nhìn Triệu Nắng Thắp với ánh mắt cảm thông. Anh biết Thắp cũng đã bị Vũ Hồng Ngà đuổi việc, sau khi Thắp cưới vợ được một tháng, vì Thắp cũng không chịu nhân nhượng với tư sản nước ngoài. Tiền vốn Thắp có là nhờ bán mảnh đất hương hoả ở Bình Chánh (nay đang phải ở nhờ nhà bố mẹ vợ!). Hãng nói:
- Còn bao nhiêu sinh viên đại học, ra trường rồi hay chưa, đang khốn khổ, chật vật, gia đình không còn một hạt thóc nhổ râu! Nhóm bạn bè mình thế là đã khá may mắn khi vào đời rồi - anh nhìn Sim Mua, em gái của một Việt kiều Mỹ đang kinh doanh lớn bên ấy khi nói.
Sóng nhìn các mặt hàng trưng bày chung quanh, vẫn dè dặt:
- Hay thôi hợp tác với Triệu đi? Bọn mình với nhau thôi? Mình ngán cái trò "đánh bạc" này lắm.
- Thôi, mình nhất trí nhân nhượng - Hãng nói - Vốn anh em mình ít quá, làm sao cạnh tranh với các nhà thầu, các công ti được. Bọn mình cũng phải cố mà trở thành tư sản thôi. Phải có vốn lớn, bản lĩnh mạnh, mới cạnh tranh nổi với tư sản nước ngoài. Phải trở thành một đơn vị trong "binh chủng" tư sản dân tộc. Năm ngả đường kinh tế, mình phải chọn một ngả, một "binh chủng" trong năm "binh chủng". Năm ngả hướng tâm, sẽ gặp nhau mà. Thế là cũng "hợp đồng tác chiến" rồi. Nếu làm ăn kiểu cầm chừng, ít vốn, chắc phải bị bọn tư sản nước ngoài nuốt chửng, trở thành nô lệ kinh tế mất! Còn Sen Đỏ hay Sen Phố vẫn thế, chúng mình vẫn kiên trì với "tư tưởng chiến lược" - chợt thấy hơi cộm bởi các thuật ngữ quân sự, thuật ngữ kinh tế - chính trị học, Hãng cười xoà với các bạn, với cố tật của mình.
- Không phải chúng ta chọn lựa, mà không còn cách nào khác. "Binh chủng chủ lực" là quốc doanh không còn chỗ cho chúng mình. Quốc doanh xã hội chủ nghĩa, ở khu vực đó, không phải ai cũng như con sâu mọt Vũ Hồng Ngà. Có điều, bây giờ đã thế này, phải tự thấy là chúng mình tham gia một cách chẳng đặng đừng vào phương thức bóc lột tư bản tư doanh, ở khu vực thứ ba, sau khu vực quốc doanh và sau khu vực công tư hợp doanh (bây giờ, khu vực hai có thêm liên doanh). Nhưng làm thế nào được! - Thắp nói - Nói vậy là hơi "bài bản", tất nhiên "bài bản" vẫn đúng. Kinh tế vốn vậy. Đúng không? Năm "binh chủng" phải đoàn kết lại trên "mặt trận" kinh tế, văn hoá.
- Không ngờ Thắp lại bản lĩnh vậy - Sóng nói, mỉm cười - "Càng chiến đấu chúng ta càng lớn mạnh". Đúng vậy. Song đã có một ngàn năm nô lệ Tàu và bao nhiêu giai đoạn ngắn cũng phải nô lệ Tàu, rồi nô lệ pháp, Nhật, Mỹ... Liệu có chiến đấu nổi không? Chẳng hiểu sao lại "mở cửa" kiểu này! Đã đủ nội lực đâu, về khoa học - kĩ thuật, kinh tế và về phương tiện văn hoá. Văn hoá mạnh, nhưng phương tiện còn yếu. Như thế phải chiến đấu trong thế bất lợi, không cân sức. Chẳng lẽ cứ chiến tranh hết bằng hình thức này đến hình thức khác. Quá khổ sở! Quá cam go! - Sóng thở dài.
Hãng nghĩ ngợi. Một khoảng khắc im lặng trùm lên mặt bàn đặt cuối gian hàng. Thấy hơi nặng nề, Sim Mua nói:
- Thôi, tùy theo sức mình mà lập sự nghiệp. Nói gì toàn thuật ngữ quân sự, nghe nặng mùi thuốc súng quá. Khét lẹt! Đùng, đoàng! Thôi, cụ thể là có đồng ý hợp tác với Triệu không? Vấn đề là biên bản, hợp đồng, chứ đâu phải biển hiệu. Nếu Triệu đặt vấn đề như thế, mình có nhân nhượng không? Cụ thể là vậy. Hãy bàn vào cụ thể.
Hãng nghiêm nét mặt:
- Và phương thức biểu quyết nữa. Triệu có giá trị một hay là bốn? Chẳng lẽ căn cứ theo tỉ lệ cổ phần mà một "phiếu" của Triệu bằng bốn "phiếu" của bốn chúng mình? Phải hợp tác, đoàn kết với Triệu. Vấn đề là hợp tác, đoàn kết cách nào, phương thức nào? Có thật Triệu có thiện chí không, hay Triệu đang giở trò "cá mập'' với chúng mình? Triệu và chúng mình giở trò với nhau thì bọn tư sản nước ngoài sẽ có lợi. Tư sản nước ngoài sẽ suốt chửng chúng ta, và tiêm nọc vào con sâu xanh là Triệu trong tổ tò vò tư sản xuyên quốc gia của chúng.
- Phải nói cho Triệu rõ những cái cụ thể đó - Thắp cười gằn - Vẫn Sen Đỏ, Triệu bốn cổ phần nhưng giá trị chỉ là hai "phiếu" trong biểu quyết tập thể, và bên mình phải chủ toạ trong các cuộc họp, đừng để bị Triệu "giật dây".
- Triệu không nhân nhượng chúng mình đâu - Sóng nói, hơi băn khoăn.
- Lãi, chia đều theo tỉ lệ cổ phần, Triệu bốn và chúng mình bốn. Sòng phẳng! - Hãng nói thêm.
Và bốn người bạn cùng nhau nhất trí về những điều sẽ thương lượng với Nguyễn Đồng Triệu.
Hai chữ "tiền vốn" trong kinh doanh trở nên một trăn trở lớn với Hãng. Không nói, nhưng Hãng biết đằng sau Triệu còn có ông Nguyễn Hà Đông. Hãng biết ông Nguyễn Hà Đông là một con cáo già dưới chế độ cũ. Hãng tự hỏi, làm thế nào để đoàn kết được trong cạnh tranh gay gắt, khốc liệt giữa các nhà tư sản dân tộc, rồi giữa các thành phần kinh tế trong nước? Lập trường - chỗ đứng chung là giữa dân tộc, vì lợi ích dân tộc về kinh tế, văn hoá... Biết ai dân tộc và ai mại bản? Liệu Triệu cùng ông Nguyễn Hà Đông có ăn cánh với tư sản nước ngoài, sẵn sàng làm tay sai kiếm lợi cho chúng? Hãng thấy trên báo chí đã ít nhiều báo động như anh ao ước được báo động về tình trạng mại bản của một số cán bộ và một số tư sản trong nước. "Tiền vốn"! Khởi đầu là đó, sức mạnh cơ bản là ở đó. Và vốn chất xám! Hãng cũng băn khoăn về khát vọng sáng tạo kiến trúc, nghiên cứu vật liệu xây dựng. Anh đã sáng tạo được cái gì mới mẻ đâu! Chỉ mới minh họa, phục chế, sữa chữa, bổ sung! Chỉ ứng dụng vật liệu mới nhập khẩu! Hãng cảm thấy đáng tự hổ thẹn. Mơ ước cho nhiều, nói cho nhiều, nhưng nào đã làm được gì! Bên ba người bạn cùng chung hoài bão khoa học, nghệ thuật, Hãng với họ đang chỉ kiếm sống bằng việc mua bán vật tư! "Cơm áo không đùa với khách thơ", cũng nào đã khác gì với Sóng, Thắp, Sim Mua và Hãng trong kiến trúc, xây cất. Cảm giác bị "áo cơm ghì sát đất" khiến Hãng tức tối.
Bốn người bạn trẻ, đang tuổi hai mươi, bất giác cùng im lặng nghĩ ngợi. Cả buổi sáng nay, cửa hàng vẫn chưa bán được món hàng nào!
Sim Mua đến ngồi trước máy vi tính, phân tích lại một kiểu dáng kiến trúc lạ. Bỏ dở ý nghĩ, Hãng đến bên cô, cùng cô trao đổi về "tỉ lệ vàng" trong bản vẽ ấy. Anh nghĩ, dẫu thế nào cũng phải rèn luyện chuyên môn. Chuyên môn là "vũ khí".
Đang cố gắng chú mục vào khung hình vi tính với những đồ họa, Hãng bỗng nghe Thắp hỏi:
- Này, giả dụ như có những công ti tư bản nước ngoài đề nghị chúng ta hợp tác với họ, chúng ta có đồng ý không? Họ có vốn lớn, lại có công nghệ cao, tiên tiến... Chẳng ai hữu nghị đến mức "viện trợ không hoàn lại" và "chuyển giao công nghệ tiên tiến không có điều kiện"! Tư bản mà lị!
- Chủ trương của Đảng bây giờ là vừa hợp tác vừa đấu tranh - Hãng quay mặt lại nói với Thắp - Hợp tác nhưng vẫn đấu tranh với tư sản nước ngoài để giữ thế chủ động, quyền tự chủ kinh tế và các mặt... Ai chả biết điều đó. Vấn đề là trong thực tiễn vừa hợp tác vừa đấu tranh... Thực tiễn ấy như thế nào?... Có điều, Sen Đỏ chả muốn làm "vệ tinh" đâu nhỉ? Thắp, Sim Mua và Sóng có muốn làm "vệ tinh" cho tư sản đa quốc gia không? Vả lại, chúng mình có là cái cóc gì đâu mà đặt vấn đề ấy! Cứ như thể những ông trời bàn chuyện!
- Chẳng lẽ kiến trúc sư, kĩ sư thế này lại làm các anh, các chị buôn bán vật liệu xây dựng thôi sao?! - Thắp cười gằn - Buôn bán vật liệu xây dựng cũng tốt, xem ra cũng sang, nhưng đâu rồi giấc mộng sáng tạo, nghiên cứu?!
- "Càng chiến đấu, chúng ta càng lớn mạnh" mà... - Sóng lại nói, thành thật nhưng không đúng lúc - Phải cố thôi!
- Thôi, làm việc đi các ông, nói nhiều quá! - Hãng cáu - Nói hay, làm dở, hoá ra hề mất! Thôi đừng chính trị một cách sống sít nữa! - Hãng lại cười xoà với Sóng.



26



Phòng của Song Mây năm kia gồm có ba chị em, bè bạn, hai năm nay chỉ còn cô và Trắng Cát. Song Mây dạo này tuy ở đây nhưng nấu nướng, ăn cơm tại nhà chị Tre Trúc. Mới đó, Song Mây đã gần thi kì cuối năm thứ ba đại học, đã sống ở biệt thự Sen Trắng này gần ba mươi mốt tháng. Những bữa ăn ở nhà chị, những giấc ngủ ở phòng này, ngay cả những giờ ở trường, những buổi tối đi học thêm về vi tính, tiếng Anh, từ độ anh Mai Tự biền biệt bặt tăm tích bỗng trở nên buồn rầu, rồi dần dần chỉ là bổn phận. Sống và học tập như bổn phận kéo dài, không vui, cũng chẳng buồn nữa, đó đâu phải là sống. Song Mây hiểu mình chỉ tồn tại như một vật thể không sự sống. Trái tim cô gái Song Mây năm kia đỏ thắm là thế, hai năm rồi hoá thành ngọc đen, đá cuội. Bây giờ, trong ngực Song Mây là một viên đá cuội bằng nắm tay, trơ nhẵn.
Nắng mùa mưa phương nam, sáng sớm, vẫn rực rỡ, tươi mát trên sân cầu lông sau toà nhà lớn của Sen Trắng. Ngồi ở hành lang phiá sau tòa nhà, nhìn ra, Song Mây thấy các bạn của mình hồn nhiên, tràn đầy sức sống. Nghị đang chơi với Gió, anh đang bị Gió áp đảo với số điểm tăng lên không dứt. Bạn bè đang hoan hô Gió ầm ĩ.
Song Mây thấy đã ráo mồ hôi sau một ván cầu lông ban nãy, cô vào phòng lấy áo quần rồi đi lui phòng tắm nữ ở ngay phòng cuối của tòa nhà, phía trong bức vách cô mới tựa lưng.
Tắm xong, Song Mây giặt luôn áo quần, đem phơi, lại vào phòng ở. Ngồi trước bàn học, cô nhìn ra sân có cụm tượng Sen Đỏ và vòi phun xòe ra như một cái cây bằng tia nước. Cây bằng tia nước lại trổ ra lá sen màu đỏ, hoa sen đỏ và hai cuốn sách cũng đỏ thắm. Đã bao lần Song Mây ước mình là một hạt chữ trên hai cuốn sách mở như đôi bồ câu thắm đỏ đang vỗ cánh kia. Hai năm nay Song Mây viết kịch bản phim và truyện ngắn, tiếp tục niềm đam mê từ thời tuổi nhỏ, tuy cô đang theo học khoa kinh tế. Cô vẫn nuôi ao ước sẽ biến những giọt nước mắt đau đớn, hối tiếc từ hai lần yêu thành kim cương, dù chỉ luyện thành một hạt nhỏ duy nhất. Cô hiểu anh Hãng, hai cuốn sách thắm đỏ như đôi bồ câu đỏ ấy toàn những con chữ lóng lánh kim cương. Đó là hai cuốn sách ghi công đức của những ai đã đóng góp cho nhân loại và Tổ quốc từ nghìn xưa đến nay, về mọi lĩnh vực, cả những công trình, chiến công của tập thể, của toàn dân tộc...
Xem lại một truyện ngắn mới viết, Song Mây cảm thấy câu chữ của mình đang là cỏ rác. Cô hơi buồn nhưng không nản. Song Mây chợt nhìn vào khung kính dựng trên bàn học. Đó là bức tranh cô tự vẽ, từ độ anh Mai Tự đã trốn chạy khỏi tình yêu giữa anh và cô. Bức tranh bằng màu nước, cỡ một cuốn vỡ, nền màu lam đậm ngả đen. Đó là màu của hoàng hôn nắng tắt hay sáng tinh sương chưa hé nắng? Hình ảnh bốn trang giấy trắng bị gió lùa bay giữa nền trời lam đen ấy, với bố cục hơi xộc xệch, sao như thể ai vừa đánh rơi hoặc vứt chúng tung tóe trên nền đất đầy tro than. Một trang trắng tinh không chút hoen ố, dù chỉ một chấm bụi nhỏ. Một trang có vết nhọ đen. Một trang có một hạt tròn kim cương toả sáng. Một trang giấy trắng nữa lại có một vết nhọ đen bên một hạt nắng hay hạt sương được gọt từ kim cương sáng ngời. Bốn trang giấy trắng như từ một xấp giấy cùng loại, cỡ, nhưng không giống nhau về giá trị.
Song Mây đã vẽ cách đây hai năm, đặt trong khung kính thường dùng để trưng bày ảnh. Hai năm trước, cô đã vẽ trong nỗi đau quằn quại của trái tim, trước lúc trái tim bị trơ đi. Bốn trang giấy! Nếu được chọn lựa lại số phận, Song Mây sẽ chọn lựa số phận nào - trang giấy nào? Bức tranh đơn sơ của Song Mây đã trả lời. Song Mây không muốn sự chọn lựa của mình là sự chọn lựa bệnh hoạn. Có điều, không thể có giả định cho quá khứ? Đã lỡ rồi, đã may mắn rồi, dù sao cũng không thể khác được. Không thể khác được, dù trót xấu, dù được tốt. Song Mây hiểu mình không cứu vãn được sự lầm lỡ tủi thẹn. Không còn tinh khôi trinh trắng. Không thể trinh nguyên trang giấy với hạt kim cương ngời sáng và vô giá. Song Mây hiểu mình là gì, trang giấy nào. Song Mây đang nỗ lực sáng tạo nên hạt kim cương để đặt cạnh vết nhơ đời mình. Đời mình lỡ hoen ố, chả lẽ cam đành chỉ hoen ố thôi sao?!
Thuở mới lớn, Song Mây có thể tốt cơ mà! Trong chập chờn tối, sáng, Song Mây biết đâu là vực thẳm, đâu là đỉnh núi. Sao Song Mây đã tự để mình suýt sa chân xuống vực? Ồ, có thể tốt, đấy là giả định cho quá khứ. Có thể đặt ra giả định nhưng không thể thay đổi được cái đã một đi không trở lại. Rồi với anh Mai Tự nữa!
Song Mây đã từ lâu lấy lại được sự bình tâm, nhưng đâu còn hồn nhiên, nhí nhảnh như thuở mới vào đại học, dẫu nét hồn nhiên, nhí nhảnh ấy đã úa bớt bởi chút tình yêu đương mộng tưởng năm cuối bậc trung học, chút yêu đương đã khiến Song Mây thi rớt một lần, để năm sau mới đỗ cùng lượt với em trai là Đất trong kì thi vào đại học ở thành phố này. Từ lâu, sau lần biền biệt dời nhà của anh Mai Tự, ở Song Mây, là sự bình tâm của một trái tim úa hẳn!
Song Mây lại cắm cúi sửa chữa những trang bản thảo truyện ngắn. Học là chính, nhưng sáng tác không thể là phụ được, có điều cô phải giành giựt từng chút thời gian rỗi để viết lách.
Trên tay Song Mây là truyện về một cô gái điếm. Cô gái ăn sương từ năm mười sáu tuổi đến tuổi ba mươi hai, vẫn buồn bã, vui vẻ trơ tráo đến bi thảm trong tủi nhục đời mình. Song Mây rùng mình kinh sợ và tự hỏi, bằng cách nào cô gái ấy vẫn sống bình thường, rất đỗi bình thường, trong hoàn cảnh của Thúy Kiều, nhưng còn bạc phận hơn cả Kiều, vì cô gái ấy không chút tài hoa, chỉ xinh đẹp ở một mức không nổi trội. Song Mây hư cấu gương mặt cô gái ăn sương nọ từ nhiều nét mặt lắp ghép lại. Theo mạch truyện, cô đem bốn trang giấy trắng của bức tranh nhỏ trên bàn viết đặt vào tay một Từ Hải - khách làng chơi. Từ Hải trong truyện ngắn chỉ là anh bán vé số nào đó tình cờ Song Mây gặp trong một quán ăn lúc cùng bạn bè ghé vào trước giờ học buổi chiều. Anh Từ Hải này đã tặng cô gái ăn sương tàn tạ Thúy Kiều kia bức tranh ấy. Cô gái ấy treo trên vách tôn xóm trọ rách nát... Tuy hư cấu hoàn toàn, nhưng Song Mây đã khóc cười với hình tượng!
Truyện ấy Ô Châu, Trắng Cát, Hoài Hương đều đã đọc. Ba bạn gái của Song Mây bảo hãy xé bỏ. Tai họa sẽ đến từ truyện ngắn này! Người nào khác sẽ diễn dịch Song Mây chính là cô gái ăn sương ấy! Bởi bốn trang giấy trong tranh kia đang ngày ngày nhìn vào bốn cô sinh viên ở Sen Trắng này! Lại còn bảo, bức tranh lồng kính ấy cũng nên xé bỏ nốt, bởi có người sẽ nghĩ đó là hình tượng của Ô Châu, Hoài Hương, Song Mây và Trắng Cát!
- Ai dám nghĩ lếu láo vậy? - Song Mây nói.
- Mình giả thử suy diễn, thấy có lí - Ô Châu đáp.
- Có lí sao được khi hoàn toàn sai với thực tế! - Song Mây hơi bực mình - Người ta chẳng hiểu gì về lao động viết văn cả, nếu suy diễn bậy. Mọi chi tiết, mọi câu văn đều có văn cảnh cụ thể. Song Mây làm gái điếm bao giờ! Đã có ai trong bốn chúng mình có công trình nghiên cứu, sáng tạo nào đáng gọi là kim cương! Song Mây đến năm nay mới hai mươi mốt tuổi, sinh viên năm thứ ba, làm gì có chuyện bỏ nhà đi ăn sương từ thuở mười sáu tuổi ! - Song Mây hoảng hốt, đỏ rần mặt, toát mồ hôi đính chính.
- Song Mây đừng giết chùm cả bốn chúng mình - Trắng Cát nói, hơi gay gắt - Biết ai trinh nguyên, biết ai hoen ố! Người ta có thể suy diễn thật! Rất tai họa!
- Thây mặc sự võ đoán u mê của họ - Song Mây nói trong tiếng thở hắt và thoáng chột dạ.
- Không lâu nữa mình về Mỹ rồi, chả sợ! Có điều, mình chợt ngộ ra ý nghĩa của bức tranh trên bàn Song Mây. Nếu có phép mầu nào đó, hãy tinh khôi, trinh nguyên lại chính mình. Chính mình là tờ giấy bẩn kia, cả vết bẩn bên viên kim cương trên trang giấy bên cạnh. Ba bạn hoàn toàn trong sáng, trinh nguyên và sống có sáng tạo - Hoài Hương cười buồn cuối câu nói, với nụ cười hối tiếc rất người.
Song Mây chỉ muốn khóc:
- Hoàn toàn vớ vẩn! Đây chỉ là bốn trường hợp. Mình hình tượng hoá bốn điển hình của bốn loại số phận nói chung. Chỉ vậy thôi. Đó chỉ là biểu trưng, hoàn toàn có tính chất tượng trưng. Mình muốn trình bày bốn điển hình biểu trưng về số phận để chọn lựa. Trong đó, đã có sự đánh giá, xếp loại theo thứ bậc. Và chẳng ám chỉ ai cả. Còn cô gái ăn sương trong truyện là hình tượng được xây dựng từ một mẩu tin trên báo với nhiều chi tiết hư cấu. Mình đã thêm thắt, lắp ghép vào đó những cảm nhận riêng về xã hội để thành một truyện ngắn, tuy mẩu tin vỏn vẹn chỉ ba mươi chữ, vốn khô khốc, khách quan rất thông tấn, với ý phê phán, cảnh báo theo yêu cầu của báo chí. Suy diễn vậy, còn ai viết, ai vẽ nữa! Người ta chẳng biết "sai một li, đi một dặm" sao, nữa là hư cấu nghệ thuật, toàn lắp ghép, tưởng tượng!
Song Mây bật khóc, vùi mặt vào gối bông, nức nở. Song Mây cảm thấy thương niềm hối hận của Hoài Hương, thương cả chính bản thân. Cô hiểu Ô Châu, Trắng Cát phẫn nộ là phải. Nhưng đó vẫn là sự phẫn nộ từ suy diễn, ngộ nhận.
Bây giờ, trước khung cửa sổ bốn lá kép mở ra sân Sen Đỏ, Song Mây đọc lại, vẫn còn phân vân trong ý định sửa chữa, thay đổi một số chi tiết truyện. Đúng là nhà văn, hoạ sĩ và những người sáng tác khác đã bị mất tự do, chịu hàm oan từ nghìn xưa đến nay bởi các suy diễn xem ra có lí ấy. Song Mây giật mình, nhớ sự dẫn dắt của vô thức trong buổi tối ở quán cà phê năm kia. Lúc này, cô ngẫm lại. Và lại giật mình bởi sự suy diễn của bạn bè cùng nhà Sen Trắng. Có chút nào là kinh nghiệm về sự nổi loạn tư tưởng, tình cảm của mình trong truyện này không? Chỉ là một giọt nước mắt của Song Mây trong biển tủi nhục của hình tượng cô gái ăn sương, ở truyện ngắn chính cô đã viết.
Song Mây xấu hổ muốn khóc, tự hỏi, sao mình không đưa chi tiết chiếc nhẫn vàng của anh Mai Tự vào truyện nào cả. Đó là chiếc nhẫn tròn như con số không!
Năm kia, trong căn nhà của người bạn anh Mai Tự, vắng hoe, không một ai ở nhà, một nụ hôn dài trong say đắm đã nồng nàn trên môi Song Mây. Sau nụ hôn, cả anh Mai Tự và cả Song Mây đều đã không thể kìm chế. Bàng hoàng, hoảng hốt, hơi trơ trẽn cuối cuộc cháy bỏng giữa hai người! Ngay tức khắc, anh Mai Tự đã đóng lại cửa nhà, chở cô đến một tiệm vàng ngoài phố. Người chủ tiệm cứ ngỡ họ mua nhẫn cưới, lại hiểu ra họ bán! Anh Mai Tự chở cái xác xinh đẹp Song Mây đến bệnh viện như bị ma đuổi. Ngay tức khắc, vị bác sĩ hiểu chuyện. Song Mây tủi nhục nhưng cố chịu đựng. Cảm giác nồng nàn, cháy bỏng mới cách đó nửa giờ đã bị thay bằng sự đau xót, tê dại ở bệnh viện. Cả Song Mây lẫn anh Mai Tự đã thoát tội "giết người", một sinh linh nếu chậm trễ sẽ hình thành, hình thành như một nạn nhân của tội lỗi họ cùng nhau đồng lõa. May mắn thay, họ tránh được tội ác do tội lỗi của họ.
Nỗi tủi hổ chắc hẳn đến suốt đời Song Mây vẫn không quên được. Chiếc nhẫn vàng rút ra từ ngón tay anh Mai Tự tròn rờn rợn một con số không. Bây giờ, Song Mây vẫn còn nguyên cảm giác của cái chết khi vẫn thở, vẫn lên xe gắn máy, vẫn bước vào tiệm vàng, vẫn lê chân trên hành lang, và rồi trong phòng bệnh viện. Song Mây rùng mình, trào nước mắt kinh hoảng. Cũng từ đó, cô sợ hãi bất kì chiếc nhẫn nào.
Song Mây tự hỏi, sau này hẳn cô sẽ chẳng bao giờ đeo nhẫn nữa chăng? Có đủ can đảm để sống lại cảm giác tủi hổ, hãi hùng ấy!? Làm sao Song Mây đủ can đảm để viết lại thành truyện hay kịch bản phim chi tiết ấy! Song Mây đã có một vài tháng trót sống trơ tráo, sống với nỗi buồn trơ, tê điếng, suýt nổi loạn, phá phách chính cuộc đời mình. Cô đã kịp ghìm lại sự sự thác loạn. Tình yêu đương mộng tưởng là đám mây đen cao nguyên đã bay đi, nhưng vết tủi hận với anh Mai Tự vẫn hoen ố, ghê sợ mãi trong tâm hồn Song Mây đến suốt đời.
Sáng chủ nhật này, Song Mây một lần nữa buồn trào nước mắt. Nắng ngoài sân Sen Đỏ tươi vàng rực rỡ đến vô tâm. Trong biệt thự Sen Trắng này, cô hiểu chính mình là đoá sen lấm bùn. Một đoá sen tự vùi xuống bùn tanh!
Nắng từ thềm tòa nhà đã xuống khỏi bậc cấp. Khá trưa rồi. Song Mây nghe những tiếng cổ vũ, reo hò từ sân cầu lông phía sau vọng tới, rõ nhất vẫn là tiếng của Cơ Nguyên và Y Cao - hai đứa con của anh Cơ Dân.
Song Mây chợt thấy bức tranh đơn sơ của mình với bốn biểu trưng, ngầm ý đánh giá, xếp loại, xem ra hơi vớ vẩn, nhưng có ý nghĩa giáo huấn cho bản thân hơn bất kì kinh sách, thánh nhân nào. Còn Thượng đế, chỉ là đứa trẻ, đứa "trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán, chết đuối người trên cạn mà chơi", nói như nhà thơ lớn, giỏi cả nghệ thuật kiến trúc Nguyễn Gia Thiều! Ngài hóa nhi ấy chỉ thích đưa đẩy con người vào tội lỗi và tội ác để cất tiếng cười khoái trá, có giáo huấn ai bao giờ! Hay Thượng đế là Ông Trời già, thường thả tóc trắng vào mỗi tiết thu, mãi mãi im lìm - ''Thiên hà ngôn tai'' (''Trời có nói gì đâu!''), như nhà giáo vĩ đại Khổng Tử đã bảo?



27



Cuối mùa hạ mưa ở thành phố, biệt thự Sen Trắng đã dần đông đủ trở lại. Các sinh viên trọ học, hầu hết đã vào năm thứ tư của bậc đại học. Hoàng và Hoài Hương, năm thứ hai. Nghị đã tốt nghiệp, lại may mắn xin được việc làm ở một xí nghiệp cơ khí. Nghị đi làm đã được hai tháng, tỏ ra yêu nhà máy đến quên ăn quên ngủ. Anh không ngớt khen ngợi vị giám đốc được phong hai lần danh hiệu Anh hùng Lao động và tập thể kĩ sư nơi anh làm việc.
Đã hơn bảy giờ rưỡi tối. Tối nay là buổi tối thứ bảy, Nghị lại đến biệt thự Sen Trắng để thăm ông bà Hương Chữ - Lụa Hà, vợ chồng anh Cơ Dân - Y Sông và gia đình nhỏ của Hãng - Tre Trúc, cùng bạn bè trọ học cũ. Từ Thủ Đức, anh đi xe gắn máy của cơ quan về Sen Trắng này.
Đang chơi cờ tướng với Hãng, Nghị bảo:
- Chị Tre Trúc cái gì cũng Việt hoá cả. Cũng hay! Bộ cờ tướng này mấy trăm, mấy ngàn năm rồi vẫn để nguyên chữ Hán. Lạ thật. Cũng xin chúc mừng chị Tre Trúc về cuốn sách vừa được xuất bản.
Tre Trúc mới dắt Cây Bàng tập đi chập chững từ phòng ngủ ra, mỉm cười với lời khen, bày tỏ niềm vui cũng là lời chào của Nghị.
- Gặp nhau là đánh cờ liền sao? Coi bộ ở xí nghiệp cơ khí không ai so tài với Nghị chắc ? - Tre Trúc lại mỉm cười.
- Thua! Nghị dạo này cao cờ quá - Hãng bị chiếu tướng, đang bí nước.
- Đâu dám! - Nghị đáp, cười thích chí - Lâu nay vẫn giải trí môn này với anh em trên xí nghiệp. Hồi ở đây, thua anh Hãng hoài, giờ mới thắng đấy!
Một tiếng chuông cắt ngang tiếng cười của Nghị. Hãng vội ra mở cổng. Sau cơn mưa lớn hồi chiều, đất và đá lát còn ướt nước. Dưới ánh đèn ở cổng, Hãng rất đỗi ngạc nhiên.
Tre Trúc cũng không ngờ Hàn kiều Mỹ Giêm Kim và cô Hương Tràm, cùng một người Úc đến thăm. Hãng chào rồi bồng con lên toà nhà lớn gửi cho Song Mây. Anh vội xuống tiếp khách với vợ.
- Tám giờ rưỡi tối rồi. Chúng tôi đến thăm hơi muộn, và xin lỗi là đã không điện thoại trước - ông Giêm Kim nói bằng tiếng Việt, rất chậm - Xin giới thiệu, đây là ông Bơ-rao (Brown), người Úc, còn đây là... ?
Khách và người nhà gật đầu chào nhau sau câu giới thiệu về Nghị của Hãng.
- Cô Tre Trúc ạ, chúng tôi đến chúc mừng cô cuốn sách mới xuất bản - cô Hương Tràm nói, sau một lúc chuyện trò.
- Xin cảm ơn tất cả. Rất tiếc ở biệt thự Sen Trắng này có nội quy không được uống rượu, trừ những ngày giỗ tết. Xin thông cảm cho. Xin mời chúng ta dùng trà.
Nâng tách trà trên tay, ông Kim cười, lại nói bằng tiếng Anh.
- Rất may là dịp chúng tôi sắp về Mỹ, cô Tre Trúc lại xuất bản sách trước. Tôi đã nghe nhà tôi, cô Hương Tràm, cho biết đã có vài bài báo tán thưởng, đồng thời ít nhiều có nhận định với ý phê phán. Nhưng tôi, cả ông Bơ-rao, đều thấy nhiều người, Hàn Quốc và Úc lẫn Mỹ, giỏi tiếng Việt rất thích. Ông Bơ-rao là một giáo sư Úc về Việt Nam học - cô Hương Tràm dịch lại.
Tre Trúc thật không ngờ. Cô viết cuốn sách "Những nhu cầu cơ bản của con người và bản lĩnh văn hoá Việt Nam" trong năm tháng. Một người làm sách liên kết với nhà xuất bản để in, nhuận bút trả cho cô chỉ là một trăm bản in! Gần hai trăm trang sách viết từ luận văn tốt nghiệp, từ nghiên cứu lễ cưới hỏi, và từ những kiến giải về các khiá cạnh văn hoá khác sau này, cô không ngờ lại được xuất bản. Mới đó thôi, đến ông Bơ-rao, ông Giêm Kim cũng biết.
- Chúng tôi đề xuất rằng, mong cô Tre Trúc cho phép chúng tôi dịch ra tiếng Hàn Quốc, tiếng Anh để xuất bản ở hai nước của chúng tôi, cả ở Mỹ nữa. Chúng tôi hi vọng Việt kiều Mỹ đón nhận - ông Bơ-rao nói tiếng Việt bằng giọng Huế khá chuẩn.
Tre Trúc xúc động đến bối rối. Hãng đỡ lời giúp vợ. Sau đó họ đã kí hợp đồng. Tre Trúc run lên trên nét kí tên. Xấp tiền một ngàn đô la Mỹ được đặt trên bàn nước. Tre Trúc tới bàn viết, lấy ba cuốn, kí tặng giáo sư Bơ-rao, hai vợ chồng ông Kim và Nghị.
Biết đã tối, khách xin phép về.
Ở cổng, cô Hương Tràm đi chậm lại, cầm tay Tre Trúc:
- Rất tiếc, tôi và Tre Trúc không làm việc với nhau lâu. Tôi cũng sắp cùng Giêm Kim về Mỹ hẳn. Thế là phải đất khách quê người! Bây giờ, ở Việt Nam, tôi cũng lỡ là "khách", qua Mỹ, cũng "khách". Cái số phải làm "khách" suốt đời, kể cũng lạ! Thôi, chúc khỏe, hạnh phúc và viết được nhiều sách, Tre Trúc nhé - cô Hương Tràm nhìn thật kĩ Tre Trúc, hơi rưng rưng khóe mắt - Dẫu sao, tôi vẫn là người Việt...
- Mong ông Giêm và cô hạnh phúc. Em rất xúc động, quá bất ngờ. Có bao giờ em nghĩ cô không là người Việt!
Nghị bên vợ chồng Tre Trúc, nhìn theo ba vị khách, đến khi chiếc xe hơi chở họ lăn bánh, ra khỏi hẻm. Cả ba người vốn cùng nhà Sen Trắng vẫn còn đứng lại ở cổng trong nỗi ngạc nhiên thú vị, và thoáng chút bùi ngùi, mặc dù xe hơi đã khuất, khách đã xa.
Hãng sực nhớ đến Gion, Thủy Lê Thị, một người Úc (thật ra là một gián điệp CIA. của Mỹ) và một Việt kiều Úc, hai kẻ đã dã tâm tác động Vũ Hồng Ngà để đẩy cả anh lẫn Thắp đến chỗ cùng đường, nhục nhã. Đã vài lần Hãng đấu tranh với Gion, Thủy để biết được những nanh nọc bọc đường của chúng. Hãng cũng đã biết Giêm Kim - Hương Tràm. Nhưng lúc này, anh vẫn ao ước ai rồi cũng sẽ tốt như giáo sư Bơ-rao, ai cũng hồi tâm và tình nghĩa như Giêm Kim - Hương Tràm. Không, Hãng nghĩ, thật không nên hiểu mọi người Úc, mọi Việt kiều đều là Gion, Thủy Lê Thị. Vẫn có những tấm lòng... Người tốt bao giờ cũng là số đông, số đông áp đảo.
Đóng cổng, bước vào nhà, đã thấy Song Mây bồng Cây Bàng chạy xuống ở sau lưng, rồi tiếp đó là Trắng Cát.
Lần đầu tiên trong đời, Tre Trúc nhận được một lúc từ công sức lao động của mình một số tiền lớn đến vậy. Thật ra cũng chả là bao, nếu một ngàn đô này ở đất Mỹ! Khoảng mười ba triệu đồng, ở Việt Nam, đã là một món nhuận bút tác quyền khá lớn. Trong Tre Trúc, vẫn có cảm tưởng lạ kì là tiền trên trời rơi xuống, mặc dù chính từ lao động trí tuệ của cô mà có!
- Ông giáo sư Úc và ông Hàn kiều Mỹ này chơi đẹp đó chứ. Nếu là kẻ khác, dám họ "im lặng" dịch ra, phát hành thì sao - Nghị chúc vui và nói.
- Xin cô Tre Trúc cho biết cảm tưởng? - Trắng Cát ra bộ là phóng viên đang phỏng vấn, rồi cười thật giòn.
- Cái chính là sách mình viết được phát hành rộng, ra khỏi cả Việt Nam, lại được Việt kiều đọc - Tre Trúc cười - Đó là niềm vui lớn nhất. Bộ Trắng Cát định chuyển khoa sao?
Lát sau, Nghị cũng lên xe gắn máy về lại xí nghiệp cơ khí của anh ở Thủ Đức. Một lúc, anh Cơ Dân lại lững thững bước qua, chuyện trò với vợ chồng Hãng và hai người bạn trẻ. Hơn ai hết, anh Cơ Dân hiểu niềm vui được phổ biến tác phẩm của người sáng tạo, gồm cả sáng tạo trong công việc nghiên cứu.
- Không hiểu số phận tôi thế nào, vì đã may mắn lấy một thiên tài làm vợ! - Hãng đùa.
Những tiếng cười vang lên giòn giã, vui vẻ.
- Cây Bàng! Sao cưng cưng không giống hệt mẹ, lại giống y boong ba làm chi hở cưng! - Hãng lại đùa.
- Ba là chiến sĩ ở ngành "mũi nhọn" trong kĩ thuật chứ đùa sao! - Song Mây đỡ lời, mỉm cười, đã thoáng vui trở lại.
Tre Trúc vui đến ngẩn ngơ, bàng hoàng. Cô vẫn dè dặt:
- Em vẫn không ngờ ông Giêm Kim, ông Bơ-rao lại đồng cảm với cuốn sách của em. Em nghĩ họ phẫn nộ chứ. Có điều, nghĩ lại, em xoá đi ý tưởng họ chỉ làm ra vẻ thế thôi, bởi một ngàn đô với họ có nghĩa lí gì. Ở các nước tư bản, ở đâu cũng thế, vẫn có những trí thức độc lập tư tưởng. Nước Mỹ từng có Đảng Cộng Sản, từng có Giắc Lơn-đơn (Jack London), có Gian Phon-đa (Jane Fonda), Mo-rít-sơn (Morisson), nay ở Trung tâm Gioi-nơ (Joinner), có các cựu chiến binh từng phản chiến, ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.
- Đúng, họ vẫn đấu tranh cho nhân quyền, để họ được tự do thể hiện chính kiến (chủ kiến về chính trị), tự do tư tưởng... - anh Cơ Dân nói với vẻ xúc động - "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Phải độc lập hơn, tự do hơn nữa - anh Cơ Dân lại nói - Tre Trúc à, nhờ cuốn sách của em, anh đã phổ nhạc thành công bài thơ khá dài về cái đình làng, bài "Mặc niệm" của bạn anh. Bài đó xuất bản lâu rồi, viết về một miền quê trong tâm thức, một miền quê của những miền quê, cũng không phải về cái đình cụ thể nào. Anh rất thích, cứ phổ hoài nhưng chưa đạt. Đọc sách của Tre Trúc xong, anh phổ liền một hơi thành một trường ca nhạc, đạt ngay. Hôm nào anh sẽ hát, mong được góp ý nhé.
Một tiếng chuông chùa trên sân thượng ngân vang. Anh Cơ Dân đứng dậy :
- Để anh ra mở cổng cho. Có lẽ Hoàng và Hoài Hương đã về. Anh về nhà anh luôn, chín rưỡi rồi. Chúc vui nhé.
Hoài Hương xuất hiện khi cánh cửa sắt mở ra, bánh xe dưới cánh cửa lăn trên đường ray vòng cung.
- Trời đất, dám diện cả áo tứ thân toàn một sắc hồng đi phố sao! - anh Cơ Dân nhìn chăm chăm với vẻ đùa vui - Quá trời đẹp! Nhà Sen Trắng này sao đậm đà dân tộc tính đến thế! Xin "kính" mừng nghe Hoài Hương.
Hoài Hương cười thật tươi tắn, tiếng cười giòn tan:
- Cổ kính thế, mà quá thời trang hiện đại!
Anh Cơ Dân mỉm cười nhìn theo Hoàng và Hoài Hương. Hoài Hương chợt đứng lại, quay mặt ra phía anh Cơ Dân:
- Cho em gửi lời cảm ơn chị Y Sông nhé. Đúng là nhà thời trang lớn, may quá đẹp. Đúng là nghệ sĩ may mặc!
Anh Cơ Dân cũng chỉ mỉm cười thú vị. Quả là cô sinh viên Việt kiều Mỹ này đã thay đổi nhiều, và khá dễ thay đổi. Anh sợ rằng Hoài Hương chỉ thích lạ mắt, chịu mới mẻ một cách táo bạo, ngổ ngáo, tinh nghịch thế thôi. Bước vào nhà, anh vừa đi vừa mong cả nước mình đều mặc áo tứ thân, tất nhiên là dành cho phái nữ, như Tre Trúc đã viết trong sách. Các cô gái sẽ mới mẻ và cổ kính như Hoài Hương. Anh cũng mong tính dân tộc không chỉ ở trái tim hay chỉ ở chiếc áo. Bên trong lẫn bên ngoài, tâm hồn lẫn trang phục, đều rất Việt Nam! Anh Cơ Dân lại mỉm cười hi vọng. Anh chợt nhớ mấy năm nay, để dọn cửa hiệu may mặc, phải chịu tiền thuê mặt bằng khá cao, còn cách may mặc đã chạy theo thời trang, đẹp có, lố lăng kinh dị có, những kiểu cách gây dị ứng cho chị Y Sông, và áo quần may sẵn lại tràn lan, khiến mức thu nhập của vợ anh giảm sút... Anh Cơ Dân muốn tạm quên đi những khó khăn về mức sống.



28



Vào nhà, anh lấy ống sáo, ra hành lang ngồi thổi một khúc nhạc của mình. Anh biết tiếng sáo giữa khuya khoắt, nửa đêm về sáng, cũng không làm ai giật mình, mất ngủ. Lúc này, chắc mới hơn chín giờ rưỡi tối. Bài "Mặc niệm", một bản nhạc khá dài, với tiết tấu, giai điệu biến hoá, linh hoạt như một liên khúc (các ca khúc ngắn nối liền nhau), nhất quán nhưng không đơn điệu. Anh Cơ Dân đã tiếp nhận từ nhạc lễ mỗi dịp cúng tế, lễ hội ở đình làng rồi nâng cao, cách tân, với những nét hiện đại. Anh hình dung nhạc và lễ ở đình làng như thể đã được chế định lại. Theo tiếng sáo, một đình làng nghìn xưa bỗng mới mẻ và cổ kính, như lời thơ, như mơ ước da diết về lại với mạch tâm linh - lịch sử rất cội nguồn, với chút lòng hướng tới nghìn sau, trong tâm khảm.

MẶC NIỆM
trong tôi có một miền quê
đôi khi buồn quá tôi về trong tôi

bao nhiêu vỡ nát rối bời
thiêng liêng quốc túy vẫn ngôi đình làng
nến lung linh khói trầm nhang
nghe lòng ấm lại bốn ngàn năm xưa

đất trời buốt bỏng nắng mưa
trái tim thanh lọc nhịp mùa nguyên sơ

chiêng rung trống vọng bóng cờ
trăm con chim Lạc, giọng hò trăm nơi
mẹ Tiên yêu núi biếc ngời
cùng cha Rồng hát chung lời sóng vang

đông
tây
khúc xạ
hòa tan
tan vào vũ trụ mênh mang mãi còn

mở trường ẩn giữa làng thôn
sớ dâng, kẻ sĩ nhớ ơn người thầy
và ai thấu nỗi đắng cay
giả lười, sách thuốc đọng dày tình dân (17)

bâng khuâng...
xa khuất, suối ngân
lắng trong heo hút tiếng chân không mòn

quên thù cha vì nước non
vung gươm, truyền hịch vạn hồn bừng nghe
và ai thắp lửa hội thề
án oan tưới máu...
bia đề, rưng rưng... (17)

thây phơi, đàn nhị nghẹn chùng
vô danh câu hát, mung lung hương đồng

sân đình lặng nhớ cha ông
thuở nào mở đất dắt bồng cháu con
hoang vu chí ngợp vai sờn
ngoảnh về cố quận hoàng hôn cháy lòng

nao nao diệu vợi pháo hồng
bồi hồi trăng ngát đèn lồng lễ vui

ngấm bao chát xót ngọt bùi
ngàn xưa reo múa ngậm ngùi ngàn xưa
mương kênh rửa mặn thau chua
ngàn sau điện sáng trĩu mùa ngàn sau

còn dây tóc chỏm khoe màu
áo dài khăn đóng bạc đầu ô đen

vẫn còn đây làm sao quên
ước mơ nẩy lộc đẹp thêm một thời
gốc bàng cổ thụ khô rồi
bây giờ sống lại cho đời, vạn năm

trong tôi, khuya một, đêm rằm
ngát xưa hương tỏa hướng tâm về nguồn

bao ngôi đình quá thân thương
nơi tôi tìm đến dọc đường xa quê
trái tim gọi thức cơn mê...
hồn thiêng đất nước lắng nghe chút lòng…

Lễ hội, giao cảm tâm linh, như một khiá cạnh cốt lõi của văn hoá, sự nối mạch văn hóa. Trong sinh hoạt thường ngày, thế giới, với các phương tiện giao thông, viễn thông, như bị thu nhỏ lại. Một tiếng khóc, một tiếng nấc ở Nam Tư, tận Việt Nam đã nghe, đã hiểu. Loài người có xu hướng y hệt nhau về nếp sống, nếp nghĩ và nếp làm - nhất thể hóa, hòa tan vào nhau làm một trên mọi phương diện. Có phải xu hướng ấy là đúng đắn? Liệu sẽ dẫn đến đâu? Xu hướng ngược lại: bảo vệ bản sắc văn hóa nhân tộc và dân tộc, trong sự hội nhập vào quốc tế. Liệu có phải là một phản ứng cuối cùng, cái lóe lên trước khi phụt tắt của chủ nghĩa dân tộc và nhân tộc?(!) Anh Cơ Dân đã có ba lần băn khoăn, thao thức ở ba thời điểm : tuổi mới lớn với văn hóa Mỹ, tuổi hai mươi với văn hóa xã hội chủ nghĩa, và thời điểm này, thời Mở cửa.
Cầm ống sáo trên tay, tựa lưng vào cột hành lang, ngồi trên thành lan can ven thềm, anh Cơ Dân im lặng nghĩ ngợi. Không còn băn khoăn, thao thức, trăn trở nữa, có điều đôi khi phải cần ngẫm lại chính những gì đọng lại, làm nên bản lĩnh sống trong mình. Bản lĩnh ấy cũng hao hụt, phôi pha, nếu bỏ mặc phần tâm thức nguồn cội trong mình cho quên lãng, không tự trau dồi thêm!
Bài thơ Mặc niệm của bạn, anh Cơ Dân đồng cảm với cả lòng mình. Anh đã phổ nhạc, những mong thành nhạc tế lễ. Bài thơ ấy cũng đã trở nên máu thịt anh. Sao tiếng sáo vừa rồi ngỡ vang tận nghìn xưa lại vọng về anh những băn khoăn cũ... Trong cuốn sách của mình, Tre Trúc bảo, bản sắc nhân tộc nào cũng gặp nhau ở tính phổ quát, ấy là tính con người, tính loài người. Anh Cơ Dân thấy rất đúng là, các nền bản sắc văn hoá chỉ gồm các biểu hiện khác nhau của tính phổ quát ấy. Có điều, theo cách nói của ai đó, nếu mọi loài hoa đều là cúc vạn thọ, thì cuộc sống quá đơn điệu, buồn tẻ. Thế giới Tre Trúc mơ ước cũng không mới gì, ấy là một vườn hoa với ngàn luống hoa khác màu, khác loại và đều đẹp.
Bản sắc văn hóa có phải là sản phẩm của quá trình cách bức dài lâu về địa bàn cư trú, thiếu phương tiện giao thông, viễn thông để trao đổi trong giao lưu? Nhân tộc, dân tộc cũng là sự khu biệt hóa do sự cách bức địa dư đó? Nhân tộc, dân tộc và bản sắc văn hóa cùng song song hình thành như xác với hồn theo sự chia biệt địa bàn sinh sống và quốc gia?
Bản sắc văn hóa nào có tính hợp lí, tính phổ quát nhất? Các hình thái chính trị phủ định nhau, thay thế nhau, sao tôn giáo vẫn bền vững? Đến bao giờ khoa học thực nghiệm và lí tưởng nhân văn mới sẽ soi sáng mọi ngõ ngách của tâm thức con người? Tôn giáo có tính bản địa rất nặng, rất đậm, sao lan truyền khắp thế giới? Cái giáo đường, cái chùa, cái đình, cái nào mang tính phổ quát nhất?
Anh Cơ Dân thấy Tre Trúc nói rất đúng, cái đình nhân loại nhất, phổ quát nhất nhưng cũng nhân tộc, dân tộc nhất. Đó là biểu hiện cụ thể, tập trung của Đạo Hiếu Nghĩa, thờ cúng tổ tiên, những người có công, sức mạnh nhân dân, nhân loại, trời đất. Tre Trúc thử giả định có cái đình ở Nga, ở Mỹ. Người Nga sẽ thờ cúng tổ tiên họ, sức mạnh nhân dân họ, danh nhân của họ cùng nhân loại, trời đất. Người Mỹ cũng thế, cũng thờ cúng tổ tiên lập quốc, danh nhân của họ và nhân loại, đất trời. Người Mỹ chắc chắn không thể không ghi công, nhớ ơn sức mạnh làm nên lịch sử nước Mỹ của nhân dân Mỹ - lịch sử được nhìn nhận ở chiều sâu, chứ không phải ở các sự kiện nhất thời do các tập đoàn cầm quyền gây ra. Người nước nào cũng hiếu nghĩa với dân tộc họ, với nhân loại, với hành tinh trái đất và cả vũ trụ.
Khẳng định cái đình là phủ định cái giáo đường, cái chùa (đặc Do Thái và đặc Ấn!)? Đâu dám vậy! Mỗi người có trí tuệ để chọn lựa riêng!

Anh Cơ Dân chợt bồi hồi xúc động. Bất giác, hơn lúc nào hết, anh thấy rõ đáp số cho vấn nạn tâm linh, dân tộc, nhân loại. Nhân loại hóa và dân tộc hóa. Nhất thể hóa và bản sắc hóa. Anh nhủ thầm, đúng vậy, đáp số đã ở trong anh từ bao giờ, nhưng đến lúc này, trở nên sáng tỏ, rành mạch như một thức ngộ lạ lùng, mầu nhiệm. Cái mầu nhiệm của đời, của tâm tư con người, sau rất nhiều băn khoăn, suy tư, trăn trở, học hỏi, nghiền ngẫm, chợt lóe sáng!
Tre Trúc, diệu kì của bình thường! Anh Cơ Dân mỉm cười. Cô sinh viên Tre Trúc cách đây ba năm, Tre Trúc bây giờ, vẫn rau thịt, tương cà, đã sinh ra một chú bé Cây Bàng, viết và xuất bản được một cuốn sách sáng giá, ngỡ chẳng có gì thay đổi... Anh mừng thầm cho Hãng. Anh nhớ Hãng đã nói với Tre Trúc một hôm có mặt anh : "Em đã viết sách, anh phải lao vào thực tiễn, phải là người hành động, là "chiến sĩ tiền tiêu"! Đất nước rất cần những con người hành động, lao vào thực tiễn!". Anh Cơ Dân lại mỉm cười. Trong ngôn ngữ của Hãng thi thoảng có những từ ngữ của thời đi bộ đội... Hãng với Tre Trúc đang ở tuổi hai mươi. Tuổi hai mươi của anh và vợ cũng khá xa rồi...
Tiếng động sau lưng khiến anh Cơ Dân quay mặt lại.
- Ba, mẹ nói khuya rồi, ba vào ngủ - Cơ Nguyên ra đứng bên anh, thưa khẽ.
Anh Cơ Dân vuốt tóc con trai, cùng con vào nhà. Anh lại bất giác huýt sáo theo ca từ:
... bao nhiêu vỡ nát rối bời
thiêng liêng quốc túy vẫn ngôi đình làng…

Anh thầm nghĩ, lúc treo ống sáo lên vách đối diện với bàn thờ tổ tiên trên tủ: Ngôi đình làng từ thời công xã xa xưa đến giờ, đã bốn nghìn năm... Yằ tưởng ấy theo anh vào giấc ngủ.
Giấc ngủ đến với anh Cơ Dân trong niềm bồi hồi, xao xuyến. Ca từ, giai điệu nhạc tế lễ rất cổ kính, rất mới mẻ đưa giấc mơ anh về nghìn xưa, bay tới nghìn sau. Nửa đêm về sáng, anh chợt được tiếng sáo trong tâm can đánh thức:
... đông, tây
KHÚC XẠ
hòa tan
tan vào vũ trụ mênh mang mãi còn...

Anh Cơ Dân cơ hồ hiểu tận sâu thẳm những gì làm nên bản lĩnh mỗi người và của chính anh, một cách không còn gọi là hiểu nữa, vì hơn cả hiểu ở mức độ của nó. Bản sắc dân tộc không chỉ thuần khởi nguồn từ cộng đồng các nhân tộc (Mẹ Núi và Cha Biển). Đó là tòa lâu đài kim cương của cốt cách văn hóa Việt Nam, bao hàm nhuần nhị cả tổng hòa văn hóa Đông và Tây với diễn trình khúc xạ, hòa tan vào nhau, trong diễn trình khúc xạ, hòa tan vào bản lĩnh văn hóa dân tộc, trên nền móng là năm mươi ba khối đá tảng văn hóa nhân tộc, cũng bằng kim cương, của chính bản sắc cộng đồng các nhân tộc. Nói khác cách nói ấy, anh muốn được sống, ngày ngày hít thở trong khí hậu bản sắc Việt Nam, một khí hậu rất riêng trong khí hậu vũ trụ của bao nền văn hóa trên thế giới, xưa, nay, và mai sau. Bao tia sáng văn hóa thế giới khúc xạ trong tâm thức Việt Nam. Ánh hồng bản sắc văn hóa Việt Nam lại khúc xạ vào các tâm thức của bao dân tộc trên quả đất này... Không chỉ bốn danh nhân trong bài Mặc niệm, anh nhớ hai cuốn sách tươi thắm sắc đỏ, ghi bao công lao nhân loại và dân tộc trên đài Sen Đỏ, cùng bao danh nhân khác.
Anh Cơ Dân cũng hiểu, như ở mỗi người, trong anh cũng có một độ khúc xạ riêng trước bao nguồn sáng. Đó là độ khúc xạ của một thành viên mang huyết thống nhân tộc Kinh, là độ khúc xạ rất riêng của tạng chất anh.
Trời gần sáng hẳn, anh Cơ Dân chợt nhớ lại buổi tối hôm qua, một buổi tối chan hòa niềm vui ở nhà Tre Trúc và Hãng.



29



Hãng không thể ngồi ở nhà để chờ xe hơi của Nguyễn Đồng Triệu đến đón. Anh vừa hồi hộp, vừa phấn khích bước ra khỏi cổng Sen Trắng. Nụ cười sáng và duyên của Tre Trúc, dưới ánh ban mai chưa chói chang nắng, lúc mở cổng đưa chân anh, khiến Hãng cảm nhận vị ngọt của hạnh phúc. Hãng bước tới quán cà phê, ngồi lại chỗ ngồi ba năm trước anh với anh Mai Tự đã ngồi để đón, và đón nhầm Tre Trúc. Hãng mỉm cười nhớ lại buổi sáng dễ thương, buồn cười ấy.
Đã cạn chén trà sau li cà phê đen, Hãng nhìn đồng hồ, hơi sốt ruột, bỗng mừng khi thấy xe Triệu vào hẻm. Hãng bước ra khỏi quán, vẫy Triệu đang ngồi trong xe. Hình như anh Cơ Dân vừa mở cổng để xe trở đầu.
Lại phải điểm tâm với Triệu ở một quán phở. Một phần vì hơi no, một phần hồi hộp bởi nghĩ về cuộc đấu giá thầu sáng nay để thực hiện đồ án một quảng trường, của chính anh, đã trúng giải xuất sắc, một phần khác do hơi ái ngại, khó chịu khi thấy người tài xế của Triệu phải ngồi trông xe, Hãng khó nuốt. Với Hãng, anh không thể quen với cung cách quan liêu này. Nuốt làm sao nổi khi tài xế phải nhịn!
Triệu cũng chẳng thèm mua chiếc bánh bao nào cho người
lái xe của mình! Ngồi bên Triệu ở băng ghế sau, Hãng áy náy nhìn gương mặt bình thản của tài xế cỡ bằng tuổi Triệu. Đó là lẽ thường tình ở đời chăng? Vậy thì băn khoăn chỉ thêm nặng lòng. Cũng như lúc ngồi ở quán phở, Hãng trót quen rồi đến không còn áy náy trước một người tàn tật ngửa tay! Trước mọi thói quan liêu trưởng giả, trước các cảnh huống xót xa đều phải chai lòng đi chăng? - Hãng tự hỏi, lúc xe chạy êm như ru đến Uẵy ban nhân dân quận, khá xa với quận Hãng ở.
Ở hội trường, Hãng bất ngờ khi gặp ông Vũ Hồng Ngà, biết ra ông Ngà quen thân với Nguyễn Đồng Triệu. Ông Ngà bắt tay Hãng, cười với nụ cười bặt thiệp của người giao du rộng, hơi nheo một đuôi mắt ra vẻ đã nắm được thóp Hãng - "thóp đầu", điểm "chết" ở gót chân A-sin (Achil) (18), từ vụ Hoài Nhớ.
- Lâu rồi không gặp lại cậu! Rất mừng về đồ án quảng trường ngã năm của cậu đã trúng giải. Biết đâu tớ sẽ thi công đồ án của cậu! Cũng hay nhỉ! Xin chúc mừng!
Ông Ngà không cười sảng khoái rồi rít cái đuôi của chuỗi cười vào cuống họng như mọi lần. Nhìn kĩ, Hãng thấy ông Ngà ra vẻ bặt thiệp, sao nom ông mệt mỏi hẳn, già đi, hình như đang cố giấu niềm âu lo nào nặng trĩu trong lòng.
- Dạ, xin cảm ơn thủ trưởng...
- Đâu phải nữa, bây giờ Thắp mới là trưởng của cậu, phải không? - ông Ngà ngắt lời.
- Dạ vâng. Cũng gọi là ông trưởng be bé vậy thôi, bạn bè cả. Chỗ bọn cháu chỉ bằng cái ria so với công ti của chú - Hãng nói lấp câu đưa đãi vừa rồi - Lâu nay, Thương Hoài với vợ chồng nhà cháu vẫn gặp nhau luôn. Thằng nhóc Cây Bàng mến cô Thương Hoài, dượng Đào Hải lắm.
Ông Ngà thoáng cau mày. Hình như nhắc đến Thương Hoài khiến ông bực mình. Ông Ngà vội bắt tay Hãng, đến nói chuyện với Triệu và một số các giám đốc, đại diện viên, nhà thầu khoán đang chụm lại, rôm rả nói cười.
Vào cuộc đấu giá thầu, Triệu ngồi cạnh Hãng. Ngoài ý đồ cụ thể sâu kín, Triệu còn muốn xâm nhập thực tế ở ngành kiến trúc, xây dựng mà Triệu đang có ý định kinh doanh. Kinh doanh về thương mãi, xuất nhập khẩu, Triệu vẫn muốn vươn thêm một tay vào ngành của ông Ngà và Hãng.
Hãng phấn khởi vì mô hình quảng trường với cụm tượng đài của anh đặt ngay trước dãy bàn của ban chủ trì đấu giá thầu. Đó là mô hình sáng tác theo đề tài của Phòng Xây dựng và Phòng Văn hóa quận: tượng đài nhà báo cách mạng chống Pháp nổi tiếng, sát cánh cùng những người cộng sản trên mặt trận báo chí, chính trị - Nguyễn An Ninh. Cụ thể hơn, đó là Nguyễn An Ninh, danh nhân hầu như duy nhất của thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh, quê ở Hóc Môn, bên cạnh một người công nhân trí thức quét rác, các loại rác rưởi.
Hãng đặt tên là quảng trường "Cái Chuông Rạn" (La Cloche Fêlée), tên tờ báo đấu tranh của ông.
Sau bốn tháng thao thức sáng tác, đồ án đạt giải cao hơn cả giải nhất! Bây giờ mô hình trên sa bàn được đặt ở đây, sắp được thi công. Hãng muốn không ai khác, chính anh sẽ thực hiện các hạng mục của đồ án, ngay tại một ngã năm của quận. Lại ngã năm! Có lẽ Hãng thành công nhờ đề tài của Uẵy ban quận đưa ra tình cờ đúng với điều anh trăn trở và tâm đắc lâu rồi. "Ngã năm Sen Đỏ" ở sân biệt thự Sen Trắng cũng được gửi gắm thêm vào trong "Cái Chuông Rạn" này. Hãng rơi vào tình huống để lòng hiếu thắng vốn có của anh trào lên đến rần cả mặt.
Các mức giá thầu tiếp tục hạ thấp. Hãng đã hô giá đúng với bản dự toán của Thắp. Vẫn bị vài mức giá thấp hơn cạnh tranh, Hãng cố trấn tĩnh. Đồ án này được thực hiện với giá rẻ như bèo kia, sẽ ra sao! Vật liệu sẽ là vật liệu giả dù nhãn hiệu đúng với yêu cầu Phòng Xây dựng quận và chính Hãng đưa ra, đã được duyệt! Không thể "bèo" như thế được ! Hãng nóng đầu. Không ngờ ông Ngà cứ hạ giá, ép Hãng đến vậy. Gần năm mươi người dự đấu thầu hơi ngạc nhiên. Họ thầm nghĩ, có lẽ người ta định thực hiện đồ án "Cái Chuông Rạn" với các hạng mục của nó bằng đất sét, bằng giấy làm hình nộm, chứ không phải bằng bê tông với đá hoa cương!
- Hãng phải bằng mọi cách để chiến thắng, để lấy uy tín cho cơ sở Sen Đỏ của chúng mình! - Triệu nói vào tai Hãng - Mình mới điện thoại về cơ sở Sen Đỏ, gặp cả Thắp, Sim Mua và Sóng - Triệu chỉ vào máy điện thoại di động trên tay - Họ nói tùy cậu. Cậu có thể chiết tính, lấy ra cổ phần của cậu ở vốn chung để tự một mình cậu thi công. Lỗ lã cũng chấp nhận đi.
Hãng cảm thấy quá căng thẳng. Sao ông Ngà, một vài đại diện các nhà thầu khác ép quá thế! Lại tự rút cổ phần ra tự liệu một mình! Phá sản để được gì đây!
- Yằ kiến vừa rồi ai đề xuất? - Hãng hơi nghi ngờ.
- Chính mình, ờ... muốn tăng độ bền cho công trình từ đồ án của Hãng đó. Mình sẽ cho Hãng vay, nếu không rút cổ phần.
Hãng bỗng liều lĩnh, chấp nhận lỗ. Anh hô giá. Và giá của Hãng là giá thấp đến mức cả hội trường im như nín thở. Ban chủ trì cuộc đấu giá thầu hỏi lại, rồi sau mười phút, họ tuyên bố Hãng đã thắng với chút ái ngại.
Ông Vũ Hồng Ngà bắt tay Hãng, mắt nháy với Triệu. Hãng đang tê dại, vì cầm chắc sẽ phải vay nợ Triệu dù đã thắng, được trực tiếp chỉ đạo thi công đồ án của mình.
Ngồi trên xe máy lạnh của Triệu, Hãng chợt tỉnh lại. Anh thấy đồ án "Ngã năm Cái Chuông Rạn" có phải là một sáng tạo gì ghê gớm, to tát, sâu thẳm, mới mẻ, là phát kiến tầm cỡ gì đâu, mà phải hi sinh tiền vốn đang quá ít của mình! Chịu lỗ để lấy uy tín cho cơ sở Sen Đỏ ư? Sao một mình mình gánh nợ! Hãng ngửi thấy một âm mưu ở Nguyễn Đồng Triệu, ở Vũ Hồng Ngà, nhưng đã lỡ chấp nhận ở cuộc đấu giá thầu tại hội trường, đã kí hợp đồng với Uẵy ban quận mất rồi! Hãng cảm thấy lạnh. Anh biết Tre Trúc sẽ không thét lác ầm ĩ, có điều, hẳn cô ấy sẽ buồn. Buồn và lo. Anh sẽ là con nợ của Triệu sao? Chính Hãng thấy rõ hơn bao giờ hết cái thòng lọng Triệu đặt vào cổ anh, lôi anh đi như một con chó đói, hay ít ra là cột chặt chân anh vào chân bàn làm việc của giám đốc Nguyễn Đồng Triệu. Ngẫm lại, Hãng thấy chưa vội nghĩ tệ về Triệu. Chờ xem.
Qua rất nhiều quãng đường phố, Hãng tính nhẩm con số chênh lệch giữa giá dự toán và giá nhận thầu. Mười lạng vàng! Có bao nhiêu đâu, nếu lỗ chừng ấy. Nhưng biết đến bao giờ anh mới trả nổi số nợ chừng ấy vàng!? Không, rồi sẽ trả được, vì anh hi vọng sẽ gỡ lại ở những công trình sau. Hãng thấy rõ anh hiếu thắng như một cố tật ngu ngốc. Hiếu thắng, đó mới là cái thóp đầu sơ sinh ở Hãng, là gót chân A-sin của anh. Hãng vẫn khắc vào đầu những cái nháy mắt giữa ông Ngà với Triệu, cả những phút hai người bàn bạc với nhau. Hãng biết trước, vẫn hiếu thắng! Có phải là hiếu thắng không? hay là tính táo bạo của người nghệ sĩ kiến trúc trong anh và lòng kính yêu Nguyễn An Ninh, mặc dù không phải không hiểu những hạn chế của ông? (19).
Chiếc xe của Triệu đã ngừng lại trước cổng Sen Trắng. Hãng mở cửa. Nhiệt độ không khí ngoài xe hực vào anh.
Tiếng chuông chùa trên sân thượng tòa nhà lan ra, ngân trên ngực anh.
Chia tay với Nguyễn Đồng Triệu và anh lái xe xong, Hãng đi bên cạnh Song Mây để vào nhà. Tre Trúc bồng Cây Bàng đứng trên thềm, cầm tay con vẫy chào Hãng. Một tay cầm cặp da, một tay nựng má con trai, Hãng cười. Gọi theo những tiếng tập gọi của mẹ: "ba! ba!", Cây Bàng bập bẹ, bi bô.
Vào phòng, Hãng để nguyên quần áo đi làm, ngả xuống giường:
- Anh thắng rồi! - Hãng mệt mỏi, kìm tiếng thở dài.
Tre Trúc reo lên. Hãng vội nói, thắng nhưng phải chịu lỗ, rồi anh kể cho vợ nghe cuộc đấu giá thầu hồi nãy.
- "Lòng người cực hiểm thay!" - Hãng ngao ngán.
- Thì đồ án mình, người khác thi công cũng được. Tại anh cũng có chút đa nghi chứ. Trên đời này chỉ có mỗi một Vũ Hồng Ngà với thêm một Nguyễn Đồng Triệu thôi - Tre Trúc bàng hoàng khi nghe Hãng nói về số nợ phải chịu, nhưng vẫn cố bình tĩnh bảo - Cũng tại anh muốn trở thành một Cao Lỗ xây Loa thành! Anh, thôi, thay áo quần đi anh. Rồi sẽ trả được món nợ ấy. Mười lạng lớn nhưng không lớn đâu! - nói thế, nhưng gương mặt Tre Trúc hiện rõ nét thảng thốt.
- Triệu biến anh thành con chó với sợi xích mỏng mảnh mười lạng vàng của nó! Anh thì muốn tác phẩm của mình có độ bền vĩnh cửu. Chẳng biết anh có ngốc không! Có lẽ anh bị kích lòng hiếu thắng thật đấy! - Hãng còn nghĩ thầm, anh còn quá thiếu kinh nghiệm nên dễ "nóng đầu", nhưng Hãng im lặng không nói tiếp, sợ bị vợ coi thường.
Hãng đứng dậy, tự bảo mình phải rèn luyện đức tính điềm tĩnh, phải thật điềm tĩnh, quyết đoán, ở lần sau.



30



Buổi chiều. Lúa Ngọc phân vân dưới trụ đèn xanh đỏ ở một ngã tư, rồi quyết định về Sen Trắng. Cô chạy xe nhưng tâm hồn đang trải qua một cuộc giằng xé đau đớn. Không cách nào khác được! Lúa Ngọc đã trăn trở nhiều rồi! Cô không muốn cứ mãi chơi trò ú tim với tình yêu đương say ngất trong đau khổ. Gió. Gió. Gió. Đã nổi bão tố triền miên trong bao ngày tháng của Lúa Ngọc. Thế là đã hơn hai năm rưỡi đeo đuổi một mối tình trớ trêu, thoang thoáng niềm vui rạng rỡ, miên man nỗi đau ảm đạm. Không cách nào chịu đựng được nữa khát vọng và tuyệt vọng nhức nhối!
Cũng biết chiều nay Trần Ngát Gió chưa đi học về lúc này với chiếc xe đạp cà khổ của anh, Lúa Ngọc vào nhà Tre Trúc. Bật máy truyền hình, ngồi bồng Cây Bàng vào lòng, Lúa Ngọc buồn muốn khóc, có hiểu gì đang được chiếu trên màn ảnh nhỏ kia đâu. Cây Bàng vẫn bi bô hồn nhiên với tay chân hiếu động. Đứa cháu trai mũm mĩm cho cô những phút nguôi quên với vẻ dễ thương, đáng yêu trẻ nhỏ.
Những tiếng chuông chùa trên sân thượng như gọi cô bước hẳn ra hành lang ngồi ngóng. Cô bỗng sợ gặp Gió lần này.
Rồi Gió cũng về. Khi gửi lại Cây Bàng cho Tre Trúc, cô ao ước mình được một chút hạnh phúc thôi, chút hạnh phúc ở nụ cười hiền hậu của người chị dâu nhỏ tuổi hơn mình.
Gió mỉm cười với Lúa Ngọc ở chiếc bàn đá dưới giàn hoa tím. Se se một cọng lá úa, Lúa Ngọc cũng mỉm cười. Hai người nhìn nhau trong một thoáng. Cứ ngỡ chẳng có gì để Lúa Ngọc buồn đến da diết thế.
- Lúa Ngọc Đời Đời đến lâu chưa? - Gió khẽ hỏi.
- Hơn nửa giờ. Đi làm về, ghé đây luôn - nhìn gương mặt sáng sủa, đẹp trai của Gió, Lúa Ngọc vừa say đắm vừa nghe nhói ở tim mình.
- Mấy tuần rồi, trông Lúa Ngọc đến, nhưng vẫn bặt tăm. Bộ có gì mới mẻ sao?
Lúa Ngọc hơi giật mình. Cô cúi mặt, ngẫm nghĩ một lúc, cắn khẽ vào môi. Lát sau, ngẩng lên, cô cười gượng gạo:
- Có. Chắc Gió sẽ vui.
- Vui?
- Nói thật nghe. Mình quen nhau thế này khổ Gió lắm phải không?
Gió chớp mắt:
- Sao lại nói thế! Tình bạn muôn năm mà!
- Thà là... Mà thôi! Vẫn mãi mãi tình bạn! - Lúa Ngọc bỗng lạnh lùng, ánh mắt hơi quắc lên trong một thoáng rồi cúi mặt xuống bàn đá. Cô đang ghìm tiếng khóc chực bật ra.
- Bao giờ Gió cũng muốn tình bạn mãi đẹp - Gió lại nói.
Lúa Ngọc vẫn cúi mặt, lắc đầu, im lặng. Cô cố hình dung ra nụ cười của một người đàn ông cùng cơ quan, nụ cười hơi chua chát nhưng hồn hậu, để xua đi nỗi đau trước Gió.
- Chính vì vậy đó - Lúa Ngọc nói, sau một lúc.
- Vì vậy là sao?
- Vì tình bạn mãi đẹp.
- Là sao hở Lúa Ngọc? - Gió hỏi như tiếng thở nghẹn.
Lúa Ngọc lắc đầu, im lặng. Cô hiểu mình tự hành hạ mình quá đáng.
- Lúa Ngọc sắp đính hôn rồi - cô nói nhanh.
Gió sững sờ. Anh thấy có một mất mát không thể bù đắp được trong tim mình. Thật lòng, Gió không hiểu nỗi chính anh. Yêu hay không yêu Lúa Ngọc, Gió không rõ. Có lẽ cả hai cùng tồn tại trong anh.
- Thật sao? - Gió nghẹn giọng.
Lúa Ngọc cúi mặt, gật đầu.
- Quen lâu rồi sao? - Gió hơi cay đắng.
- Lâu rồi, nhưng... Cũng mới thật sự không chỉ là bạn cùng cơ quan. Không, không phải bạn! Ờ, bạn vong niên! Anh ấy lớn tuổi hơn Lúa Ngọc, hơn đến hai mươi tuổi.
Gió cảm thấy nghẹn ngào. Một lúc, Gió ngập ngừng:
- Xin mừng hạnh phúc của Lúa Ngọc và anh ấy.
- Sẽ không hạnh phúc đâu! - Lúa Ngọc buột miệng.
- Vậy là sao, hở Lúa Ngọc?
- Lúa Ngọc chỉ dự cảm vậy - Lúa Ngọc cười buồn - Nhưng đành vậy. Vậy còn hơn khổ tâm!
Câu cuối cùng như thể Lúa Ngọc chỉ nói với mình, dứt khoát với trái tim mình, giọng cô lạnh lẽo, đau đớn. Lúa Ngọc vụt đứng dậy.
- Thôi. Đừng khổ tâm nữa. Hai năm rưỡi rồi. Lúa Ngọc về đây.
Lúa Ngọc đi như chạy trên lối sỏi trắng, vào sân nhà Hãng, định chào Tre Trúc, nhưng rồi đẩy xe ngay ra cổng. Gió sững sờ, bước ra mở cổng. Chỉ chào nhanh, Lúa Ngọc muốn vụt thoát khỏi nỗi đau, buồn tủi trong ngực mình. Xe gắn máy của Lúa Ngọc chở cô ra khỏi hẻm. Lúa Ngọc muốn chỉ nghĩ về anh phó tiến sĩ gầy guộc, nhỏ bé và lớn tuổi ấy, để xua đi gương mặt Gió trong đầu mình. Biết không thể chạy xe lúc này, Lúa Ngọc ghé vào một quán cà phê ven đường phố. Tìm một góc khuất, sau cây kiểng giả xanh um và đầy hoa thắm, Lúa Ngọc gọi nước uống rồi bưng mặt khóc một mình dưới ánh đèn tím. Quán lúc này may sao vắng tanh. Ngoài đường, xe cộ đầy đặc trong hoàng hôn, khoảnh khắc huyền ảo nhất của thành phố Lúa Ngọc đang sống và làm việc.
- "Thiền chăng?" (...).
- "Thiền chứ (...) Nếu hiểu thiền chỉ là sự bình tâm, tỉnh táo và sáng suốt (...) là lòng từ bi ... (...)".
- "Tình yêu cuộc sống vốn Trần ai, vẫn rất Ngát Gió nữa chứ!".

Lúa Ngọc nhớ chiều nào sau buổi đánh cầu lông, cô chạy xe song song cùng chiếc Đờ-rim đã cải tiến yên ngồi - Đào Hải chở Vũ Thương Hoài với tiếng cười khúc khích giàu lòng tốt. Đường về hôm đó bỗng đẹp trong khoảnh khắc hoàng hôn huyền ảo thế này. Hai năm rưỡi rồi! Giờ mới thật hiểu, hiểu thấm thía tình si, ảo vọng! Yêu vậy, sao nghe khổ tâm lắm, Gió ơi! Có bao cuộc tình tuyệt vời với độ chênh trớ trêu, Lúa Ngọc biết. Có bao người vợ hơn chồng những mười tuổi, vẫn hạnh phúc đến ngọt lịm suốt đời, Lúa Ngọc biết. Có điều hầu như giữa Gió và Lúa Ngọc, không có quãng cách nào cả ngoài quãng cách giữa tình bạn và tình yêu đương. Mọi quãng cách, mọi độ chênh đều vô nghĩa, đều đã vượt qua, duy một quãng cách còn lại, bạn và người yêu! Bạn, sau hai năm rưỡi, vẫn không thể là người yêu, chỉ là tình bạn mãi mãi! Biết làm thế nào được. Gió. Gió. Gió. Đừng thổi triền miên trong Lúa Ngọc nữa, Gió ơi. Gió ơi, hay mọi quãng cách vẫn còn đó?
Cô gái chủ quán bưng li la hán quả ra, hơi lặng người, đặt khẽ xuống bàn, ái ngại, như thể không nỡ làm động đến nỗi đau của khách. Lúa Ngọc đã thấm nước mắt vào khăn tay, vẫn cúi gục đầu. Cô cảm thấy hơi ngượng với cô gái chủ quán.
- Cô có thể... Vâng, cô cần gì nữa không... Có lẽ cô đang gặp một việc không may nào. Cô có thể gọi về nhà bằng điện thoại ở đây - cô gái rụt rè.
Lúa Ngọc nói cảm ơn và lắc đầu. Ngồi sững sờ một lúc, Lúa Ngọc vừa có cảm giác buồn tủi vừa cảm thấy nhẹ nhõm, trút được một nỗi đau nặng trĩu. Thế là hết. Rồi sẽ quên đi Trần Ngát Gió như một kỉ niệm buốt xót mà thơ mộng. Lúa Ngọc thấy tình yêu đương trong cô cho cô nhiều mộng tưởng nhưng nhiều hơn vẫn là nỗi tự ti trước Gió. Tình yêu ấy đã làm Lúa Ngọc đánh mất chính mình. Tha hóa, vong thân. Lúa Ngọc chạy theo thời trang, son phấn và mĩ viện đến mệt nhoài. Khổ sở đến cực nhọc cho áo quần, giầy dép, kiểu tóc, cách đi, dáng đứng, sự tăng hay giảm kí đến cuồng dại và lố bịch. Để làm gì cơ chứ! Có những điều không thể sửa chữa được! Không thể gọt dáng hình thô tháp để trở nên thon gọn!
Gió. Gió ơi. Không phải là ý nghĩ của một cô gái kém nhan sắc là tôi đâu, khi tôi nghĩ nhan sắc nào có ích gì cho đời. Nhan sắc của cỏ hoa làm tươi cuộc đời này. Nhan sắc người nữ hay vẻ đẹp người nam chỉ có ích cho riêng bản thân, nhưng làm tăng thêm nỗi đau cho đời. Người kém nhan sắc, vẻ đẹp bề ngoài bao giờ cũng quá nhiều. Tôi khổ sở vì nhan sắc, vì Gió. Đã hai năm rưỡi tôi ngu muội, si dại và khổ não. Gió. Gió. Gió. Yêu Gió tôi nào thăng hoa chút nào đâu. Gió thành bão làm tôi tiều tụy trong áo quần, son phấn. Công việc nghiên cứu sinh học có ích cho cõi đời, cho đồng bào, tôi xao lãng vì yêu mê. Cũng chỉ tại tôi cuồng si, ngu ngốc. Gió bao giờ cũng tốt với tôi, nhưng làm sao Gió buộc trái tim Gió yêu tôi được! Tôi cũng chả cần tình yêu đương đượm lòng thương hại. Tôi quên đi mặt mạnh của mình, quá chú tâm cho mặt không thể sửa chữa được. Trí tuệ có ích và không phù phiếm. Tất nhiên tôi không bì nổi với Tre Trúc, chị dâu của tôi, đẹp sắc và giỏi tài. Nhưng chỉ chọn được một trong hai, nhan sắc hoặc tài năng, tôi sẽ bình tâm, sáng suốt để chọn tài năng. Và cái nết, cái đức hạnh mới đích thực là "cái đẹp cứu chuộc nhân loại". Nhan sắc thì cứu chuộc được ai, ngoài việc... bán cho kẻ háo sắc để kiếm tiền xây dựng viện mồ côi, tặng người tàn tật! Gió. Gió. Gió ơi, yêu Gió, tôi khổ tâm, ghen tị một cách đê tiện, độc ác. Những thoáng ghen tị chợt hiện trong đầu khiến tôi tự cảm thấy nhục nhã, tự khinh mình đến trào nước mắt. Yêu Gió, tôi phát hiện ra cả những tì vết xấu xa ấy của tâm hồn mình, càng u ám, thấm thía thêm sự bất bình đẳng về mặt tự nhiên và cam tâm chấp nhận. Chấp nhận này là cả một sự phũ phàng. Cay đắng và bình tâm. Chấp nhận cả những tì vết của cái tâm, cái nết để tự sửa chữa. Chấp nhận để bình tâm về những gì bề ngoài không cách nào sửa chữa được. Ấy không phải là tiêu cực. Ấy là sáng suốt. Vâng, tôi có sáng suốt không, khi hiểu ra cái đẹp phải là cái tự phản tỉnh cho mình (cái cốt lõi của đức hạnh), cái có ích cho cõi đời chung. Đó là cái nết, cái tài. Tài năng và đức hạnh mới đích thực là cái đẹp. Tôi đã luẩn quẩn? Tôi đã rối? Không. Tôi muốn khẳng định. Cảm ơn Gió, dù cho Gió vẫn không ngờ chính Gió đã làm đời tôi bão bùng, nhưng trong bão bùng tôi có những tia chớp, tia chớp làm sấm sét đánh vào u mê tôi, cho tôi được lóe sáng về Cái Đẹp. Gió ơi, thế là hết. Nhẹ nhõm nhé. Nhẹ nhõm nhé tôi. Tôi đành chấp nhận đính hôn với Mặc Chi, người đàn ông tài năng, xấu xí và bé như một con khỉ. Tôi dùng từ chính xác. Anh ấy dị dạng thật. Tôi đã lạnh lùng nói một cách nhẫn tâm thế đó về anh, người chồng tương lai của tôi. Anh ấy có bộ óc của một thiên tài với trái tim nhân hậu của đại đa số quanh mình. Anh ấy ở Nga về với bằng phó tiến sĩ, cho dẫu công trình anh đang làm còn vượt xa tiến sĩ. Tôi đã hiểu cái đẹp, Cái Đẹp đích thực ở anh. Tôi có cực đoan không. Tôi có thách thức mắt thịt của người đời không. Tôi có xoay thẩm thức ngược chiều một trăm tám mươi độ không. Và, Gió ơi, có hài hước không, khi tôi to kềnh, thô tháp thế này, Mặc Chi của tôi lại quắt queo, gầy sắt thế kia. Tôi có nổi loạn không, lập dị không khi chấp nhận vậy. Không. Gió ơi. Tôi hoàn toàn tỉnh táo. Tôi làm cùng cơ quan với anh ấy hơn hai năm rồi. Chúng tôi hiểu nhau tận gan ruột, tận đáy mỗi khóe nhìn, mỗi lời nói. Tôi dự cảm hôn nhân chúng tôi sẽ không hạnh phúc, vì trót yêu Gió. Thời gian sẽ dần dần rót mật ngọt vào tình nghĩa vợ chồng chúng tôi. Thôi nhé, nhẹ nhõm đi Gió. Thế là hết. Chưa bao giờ tôi thanh thản như bây giờ. Gió ơi. Chưa bao giờ tôi có nụ cười biết ơn và bình tâm đến thế, với cõi đời, với người chủ quán lại là cô gái trẻ xinh đẹp. Cảm ơn nhé Gió.
Trời nhập nhoạng tối. Quán đã đông khách. Trả tiền xong, bước ra, Lúa Ngọc về nhà trong ánh đèn xe cộ và phố xá. Thanh thản qua bến xe Tây Ninh, qua ngã tư An Sương, Lúa ngọc chợt tấp vào lề khi nghe tiếng gọi tên mình. Cô bàng hoàng nhận ra Trần Ngát Gió! Gió đạp xe ngược chiều, bên kia lề đường. Gió đưa tay xin băng qua đường tuy đoạn này xe cộ đã thưa vắng bớt.
- Lúa Ngọc! - gương mặt Gió rạng rỡ trong vẻ mệt phờ - Gió chạy theo Lúa Ngọc nhưng không kịp. Gió đã về nhà Lúa Ngọc, nhưng không có. Đạp xe lên lại, vẫn ngong ngóng dõi mắt tìm Lúa Ngọc. May quá, đã gặp - Gió cười.
Lúa Ngọc xúc động đến nghẹn giọng. Cô im lặng một lúc lâu rồi đưa mắt tìm một quán nước. Đó, quán trước mắt đó thôi, có điều, Lúa Ngọc đã sợ hãi phải chìm ngập lại vào nỗi đau vừa thoát khỏi. Lúa Ngọc đã sợ vẻ đẹp và tấm lòng cao quý của Gió. Nhưng có lẽ Gió cần một li nước chanh sau một đoạn đường đạp xe đạp quá xa như thế.
- Mình vào quán nước đi, Lúa Ngọc - Gió nói trước câu Lúa Ngọc định nói, có vẻ chịu lỗi.
- Vào quán kia kìa! - Lúa Ngọc run lên, chẳng hiểu ra sao nữa.
Hơn nửa giờ đồng hồ, Lúa Ngọc chỉ khóc, lắc đầu rồi im bặt. Gió nói, Gió van vỉ, Gió khóc, Lúa Ngọc vẫn im bặt. Cuối cùng, cô nói với Gió những gì cô đã khổ khi yêu Gió, có điều đã giấu bớt nỗi buồn đau, tủi cực để làm nhẹ lòng Gió.
- Gió à, yêu nhau vậy, khổ tâm nhau lắm Gió à. Lúa Ngọc đã dứt khoát rồi. Không muốn chọn lựa khác nữa.
- Lẽ nào Lúa Ngọc không thấy dáng dấp, vẻ mặt là vô nghĩa sao! Gió cũng đã kể cho Lúa Ngọc, mạ của Gió hiện ở ngoài quê, cũng là một người xấu xí vì bệnh đậu mùa - Gió chân thành.
Lúa Ngọc bật cười, trào nước mắt, không tin lời Gió.
- Thôi. Lúa Ngọc đã quyết tâm rồi, dứt khoát rồi. Đã khổ quá, nhức nhối hai năm rưỡi rồi, còn gánh thêm một nỗi ân hận vì lại mềm lòng, lại si dại nữa, làm sao Lúa Ngọc sống nổi! Thôi, đừng bận lòng nữa - giọng Lúa Ngọc chợt ráo hoảnh.
Lúa Ngọc ra lề đường, trở đầu xe, khởi động, bình thản đến lạnh lùng, chạy về nhà, chậm rãi. Gió ngơ ngác nhìn theo, thở dài. Anh nghĩ, nỗi bệnh của mặc cảm tự ti trong Lúa Ngọc đã quá nặng. Phải chăng đó là căn bệnh của thời buổi thiên hạ chạy đua theo thời trang và các cuộc thi hoa hậu - tàn dư của các cuộc chọn vợ cho vua chúa thời xa xưa, một dạng đối cực của tục gieo cầu phó thác cho duyên số, thiên mệnh mê tín khi chọn phò mã. Quá chú trọng đến nhan sắc, sẽ khổ vì nhan sắc. Cái khổ ấy vô ích, vô nghĩa, bởi loay quay, vật vã vì một giá trị xét cho cùng cũng phù phiếm. Gió hiểu, nghĩ thế, là anh đã cố thoát khỏi thói hiếu sắc tự nhiên của con người. Và thời buổi này, thói ấy đang được đề cao, đồng thời đề cao nhan sắc, kể cả những nhan sắc nhơ nhuốc về phẩm hạnh hay đần độn, lười biếng, vô học. Gió hiểu anh đang lí trí vì yêu Lúa Ngọc, với ý nghĩ như thế về nhan sắc. Anh tự hỏi liệu anh có bị nhồi sọ về các nhan sắc châu Âu và nhan sắc nói chung quá không, khi thật lòng anh cũng bị quyến rũ bởi nhan sắc xác thịt. Có điều cũng từ lâu rồi, Gió chiêm nghiệm mãi về ý tưởng của Đốt (Dostoievski) và Cay Đắng (Go-r-ki, Gorki): "Cái đẹp sẽ cứu chuộc nhân loại""đạo đức học là mĩ học của tương lai" (20). Hiểu là một chuyện, sống lại là chuyện khác. Sống với một tư tưởng nào đó như máu thịt, như phản xạ tự nhiên của trí tuệ, tình cảm trong bản thân là một việc đâu phải một sớm một chiều.
Gió lên xe đạp, về lại Sen Trắng. Đường chợt xa lăng lắc. Gió chợt hiểu ra con người sống bằng đôi mắt quá nhiều và cũng quá nhiều xác thịt. Gió rùng mình. Anh hiểu Đốt và Cay Đắng thực sự có "tuệ nhãn", triết nhãn ngoài thị giác tinh tế bình thường, tầm thường. Gió cũng không hiểu mình là thế nào nữa, có điều, chiều hôm nay anh biết mình đã khác trước. Có lẽ mình giả dối một cách chân thành? Muộn chưa, khi Lúa Ngọc sắp đính hôn? Gió tự hỏi và cúi đầu đạp xe, nghẹn ngào. Anh muốn khóc, hiểu ra chiều nay anh đã chạm vào nỗi mất mát, hiểu ra sự tầm thường của mình. Hình như Gió cam tâm chịu đựng sự mất mát đó, chưa đủ sức mạnh của tâm hồn để vượt lên mức tầm thường trong anh.
Chưa bao giờ Gió đạp xe rã rời đến vậy. Bỗng Gió trực nhận, tư tưởng của Đốt và Cay Đắng có gì mới mẻ và xa lạ đâu, tận cốt lõi là rất gần với "cái nết (nội dung đạo đức) đánh chết cái đẹp (vẻ đẹp bề ngoài, rỗng tuếch)" ,"tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người", "văn dĩ tải đạo" ("chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm"). Gió còn liên hệ đến "tận chân, tận thiện là tận mĩ". Anh nghĩ đến cái đẹp nghệ thuật, cái đẹp đạo hạnh và tài năng, cái đẹp cuộc sống hướng thiện, cái đẹp trong ứng xử giữa người với người... Anh nghĩ đến cái đẹp có ích. Và anh buồn bã, luyến tiếc Lúa Ngọc. Gió hiểu anh yêu Lúa Ngọc, thương Lúa Ngọc, sao còn lí trí quá! Anh hiểu đầu óc anh còn lổn ngổn những khái niệm mĩ học! Những khái niệm thân thuộc ấy cứ như củi, cứ như sắt thép của các chi tiết máy móc cơ khí, chẳng hiểu sao không nhuần nhị trong tâm thức anh!



31



Bà Lụa Hà mỉm cười khi bước sóng đôi với Song Mây sau lưng Hoàng và Hoài Hương. Một chàng trai tóc hớt ngắn, quần rộng thùng thình, gấu quần trên mắt cá, chân đi giày thể thao, nom có vẻ buồn cười, nhưng rất ngộ là trên lưng áo thun cũng thùng thình rộng, một bài ca dao được in bằng các con chữ sắc nét. Không phải một câu tiếng Anh, một hình dị hợm, lại là bài ca dao Việt Nam quê kiểng nhất! Hoàng, hôm nay như thế. Bên Hoàng, song song với anh, là cô gái mặc áo tứ thân toàn một sắc lá chuối non óng mịn, đi giày hạ, tóc đã để khá dài hai năm nay, vấn lại thành lọn óng mượt, đầu chít khăn mỏ quạ cũng cùng màu áo, nom rất cổ kính và mới mẻ. Đó là Hoài Hương. Bước giữa lối đi trong siêu thị ngập ánh sáng dịu mát và hàng hóa, bà Lụa Hà cảm thấy cần phải cắt đôi nếu Hoàng và Hoài Hương được thu vào tấm giấy ảnh. Họ ăn mặc có vẻ chỏi với nhau quá. Giá như Hoàng đừng "bụi" như thế có lẽ hợp hơn. Ở hai sinh viên Việt kiều Mỹ này, vẻ hồn nhiên, lập dị một cách dễ thương có lẽ khởi từ một chất Mỹ. Bà đã gặp nhiều người Mỹ đội mũ cối, nón tai bèo giải phóng quân hoặc đội nón lá, quấn khăn rằn dạo phố với vẻ thích thú ra mặt. Cũng không phải lập dị, có lẽ thấy ngồ ngộ hay hay thế nào đó, khi đến một môi trường văn hóa khác. Nhưng có lẽ đúng hơn, những người Mỹ ấy muốn chứng tỏ họ không dính líu gì đến cuộc chiến tranh do chính quyền Mỹ tiến hành ở Việt Nam. Bà mơ hồ thấy thế, mơ hồ nghĩ thế, và cũng chỉ thoáng nghĩ. Song Mây cũng mỉm cười, lại nghĩ Hoàng và Hoài Hương thích chơi trội một cách tinh nghịch, đầy tự tin. Họ đã vứt quần cực ngắn, váy bó mông với đường xẻ "khiêu khích" và áo hở bụng, khoe ngực, áo in những câu tiếng Anh vớ vẩn. Họ chuyển cực một cách có lí nhưng chưa hài hòa. Đúng là dám nghĩ, dám làm, dám chơi trội không phiền ai...
Sáng nay, dạo quanh hai tầng siêu thị, nhiều con mắt đổ vào cô cậu với vẻ tán thưởng, thích thú, Hoàng và Hoài Hương cũng phớt tỉnh. Hóa ra họ chơi trội vì họ thích, chứ chăng vì thiên hạ, hoặc làm ra vẻ phớt tỉnh. Dẫu sao, Song Mây vẫn không dám mặc áo tứ thân quá đẹp như Hoài Hương, bởi ngoài Hoài Hương chẳng ai mặc như thế cả! Đó là cả một điều trái khoáy, có vẻ nghịch lí. Sự lai tạp quá lâu ở một thành phố về cách ăn mặc đã trở thành một lực cản, một sức ì. Dẫu chưa, Song Mây cũng dám mặc váy ngắn đầy "thách đố", nhưng quả thật không dám mặc áo tứ thân đẹp đến ngơ ngẩn mắt nhìn như thế, để dạo siêu thị! Lực cản, sức ì kì quặc!
Bà Lụa Hà mỉm cười. Song Mây ngạc nhiên về mình và ngẫm nghĩ. Trên tay cũng đã có vài món hàng trong túi ni lông, chân cũng đã hết chỗ rảo bước thêm, bà Lụa Hà quên bẵng ý nghĩ của cái mỉm cười vừa rồi. Nhìn Song Mây đang phải tươi tắn cười với một con gấu bông nói tiếng Anh những câu khá cù nách khách hàng, bà cũng cười, nhắc khẽ:
- Về được chưa ? Còn gì đâu hở Song Mây!
Song Mây gọi Hoàng và Hoài Hương. Họ quay lại.
- Cũng dạo hết các chỗ rồi. Bây giờ mình về, dọc đường, ghé hiệu sách mua giúp ông ở nhà mấy cuốn - bà Lụa Hà vừa nói, vừa lục tìm mẩu giấy ông Hương Chữ đã ghi tên sách từ một tờ báo - Đây rồi! - bà yên tâm - Bốn bà cháu mình về nhé.
- Vâng, cũng trưa rồi, thưa bà - Hoài Hương đáp.
- Song Mây gọi điện thoại đi.
- Để cháu - Hoàng nhanh nhẩu.
Anh đến một quày hàng, xin gọi nhờ.
Khi ngồi lên băng sau của tắc xi, bà Lụa Hà mới sực nhớ, thuở còn tuổi hai mươi, mới vào Sài Gòn, bà cũng mặc áo tứ thân, quần lĩnh, chít khăn, nhưng đậm đà sắc nâu với tuyền đen. Và thỉnh thoảng đi đóng phim, bà cũng còn được mặc như nếp xưa. Mới đó, đã hơn bốn mươi mấy năm, không lâu nhưng quá thay đổi.
- Phố xá Sài Gòn biến đổi ngày một nhỉ! - bà nhìn ra đường phố qua cửa kính - Mình ở ngay đây, bẵng đi vài tháng, thấy có vẻ đã khác.
- Tại bà cũng chỉ quanh quẩn ở nhà với ra chợ. Bây giờ người ta xây cất nhiều lắm - Hoài Hương nói, như thể không phải mới từ Mỹ về cách đây gần ba năm.
- Qua ngã tư này, có một nhà sách lớn lắm. Bốn bà cháu cùng vào, hay chỉ cháu vào mua cho ông hở bà? - Song Mây khẽ hỏi.
- Cùng vào đi - bà Lụa Hà cười, đáp.
Xe ngừng lại, trả tiền xong, bốn người ngẩn ngơ trước một hiệu sách ngỡ như mênh mông. Những cô gái mặc áo dài cùng một màu xanh lá non, ngực có đeo bảng tên, cười rất tươi chào đón. Song Mây sửng sốt, suýt bỏ chạy, nhưng không thể bước nổi. Cô vịn vào Hoài Hương. Cả bốn người hầu như cùng gọi một lần cái tên ''Mai Tự''! Anh Mai Tự sững sờ, mặt xanh đi, lúng túng bên tủ chia ra nhiều ngăn để khách gửi xách tay. Anh cũng mặc đồng phục, cũng màu trắng ở quần, màu lá non ở sơ mi, cũng biển tên xanh đậm trên ngực.
- Lâu quá mới gặp lại bác và các bạn! - anh trấn tĩnh nói, hơi ấp úng, xấu hổ.
Song Mây ngả đầu chết lặng với đôi mắt đờ đẫn trên vai Hoài Hương, rồi tì tay lên tủ kính, cúi gục đầu. Hoài Hương vin chặt bạn. Cô hiểu Song Mây chưa bao giờ bất ngờ đến suýt ngất như thế. Không để ý, Hoàng mừng rỡ:
- Sao anh Mai Tự lâu nay không đến Sen Trắng? Ồ, cũng lâu nhỉ! Chúng em nhắc và mong anh hoài.
Anh Mai Tự trông già hẳn đi, đang ngượng ngùng:
- Đáng trách thật. Nhưng, Bến Mai, nhà tôi, phải bệnh nặng, chạy chữa không khỏi được. Ngặt nghèo quá! Tôi... tôi cũng đành nghỉ dạy học, phải nghỉ... Mừng là thấy bà vẫn khoẻ, các bạn cũng khoẻ. Chắc ông và mọi người ở Sen Trắng vẫn hơn trước chứ?
- Vẫn được chữ "thường", anh Mai Tự ạ. Cảm ơn anh. Mà này, thế nào thì vẫn lui tới thăm nhau chứ.
Từ lâu, ngoài Song Mây, mọi người ở biệt thự Sen Trắng đều chỉ đoán có gì đó không ổn nhưng vẫn không thể đoán ra, chỉ mơ hồ hiểu anh Mai Tự dời chỗ ở để cố trốn thoát một tình huống tình cảm khó xử, có điều sao quá đột ngột. Họ biết giữa Song Mây - anh Mai Tự đã chớm một tình yêu đương, và chỉ có thế. Họ biết cả hai đã thoát khỏi, tuy mỗi người sa sút một cách khác nhau. Cứ ngỡ, lâu rồi, đã quên mất...
Không cách nào khác, cơ chừng là bản năng tự vệ và tồn tại đã giúp, Song Mây cố trấn tĩnh, quyết giữ được bình tĩnh, để khỏi tự tố cáo vết bẩn đời mình trước mọi người ở hiệu sách này. Có điều Song Mây cũng không thể vui mừng hồn nhiên như Hoàng và Hoài Hương, hoặc cởi mở, thân thiện như bà Lụa Hà. Cô đang im lặng, chết điếng như tượng đá, không khóc, cũng không thể cười.
Anh Mai Tự bỗng tìm ra lối thoát:
- Bà và các bạn cần sách gì, tôi có thể vào lấy ngay đem ra.
Thoáng ngạc nhiên, rồi đều hiểu ra sự thể, Hoàng cười với chút hụt hẫng, Hoài Hương đổi nét mặt, hơi sượng, bà Lụa Hà vội nói lấp cảm giác lạt lẽo vừa trực nhận:
- Aắ... Đây! - bà lục túi xách chưa gửi vào ngăn tủ - Đây, nhờ anh Mai Tự - bà chìa tấm giấy ghi tên sách.
- Vâng. Bà và các bạn đợi cho vài phút thôi - anh Mai Tự phá lệ, đi nhanh vào các dãy kệ sách, như đã bay thoát được khỏi cảnh khó xử khá bất ngờ.
Dáng vẻ xinh đẹp, duyên dáng, thon mọng của Song Mây trong chiếc áo dài tím nhạt, hai tà buông tha thướt, che phủ kín đáo ngoài chiếc quần đậm một màu tím than, với vẻ mặt rũ rượi buồn, sững điếng, bổ vào tim anh Mai Tự một tượng đá đổ ngã, đau đớn, bàng hoàng, tức nghẹn lồng ngực - nơi tình yêu đương luôn bùng cháy, âm ỉ lửa than rồi lại cháy bùng, khôn nguôi, suốt hai năm rưỡi qua. Như một tội phạm, nhà giáo tài hoa cũng là nhà nghiên cứu văn học dân gian hai mươi chín tuổi Mai Tự bối rối, ứng xử lúng túng và hơi bất nhã trong vẻ đào thoát. Anh quờ quạng, nhầm lẫn ở các kệ sách bên trong. Niềm ân hận hai năm nay giày vò anh đến khổ sở, xen lẫn nỗi hối tiếc về cô sinh viên xinh đẹp, thông minh, có phẩm chất tâm hồn của nhà văn đã bị cuốn vào cơn lốc nhục cảm, sa đọa một cách trí thức. Anh chưa bao giờ yêu ai đến thế, và yêu trong cảm nghĩ ghê sợ như thế. Anh Mai Tự đứng nghẹn ngào sau một kệ sách, đành nhờ một đồng nghiệp tìm sách giúp.
Song Mây choáng váng, cảm giác tủi hổ khiến cô không nghĩ ngợi được gì. Đầu óc trống rỗng, mê lịm, tuy vẫn còn nhận biết mơ hồ những gì chung quanh. Hoài Hương vẫn ôm chặt bạn, lo âu nhìn hai luồng xe chạy ngoài đường. Cô hiểu đây là cảnh huống, với người khác, có thể phát điên hoặc chết ngất, cũng thầm mừng cho bạn còn giữ được bình tĩnh. Hoài Hương cảm nhận điều ấy bằng nỗi đau uất nghẹn thường gặp ở đâu đó (nỗi nhục bị ruồng bỏ của người nữ!) hơn là bằng niềm hối tiếc về sự đánh mất trinh trắng! Hoài Hương hiểu nhưng không sống với giá trị ấy! Hoài Hương cũng nào đã hiểu hết sự thể của Song Mây, của anh Mai Tự. Nếu hiểu hết, cô cũng xem thường, hồn nhiên... đáng sợ!
- Thôi, quên đi - bà Lụa Hà trực cảm, bảo ban Song Mây với niềm bao dung.
Tuy chỉ là diễn viên không chuyên, thường đóng các vai phụ nữ Trung hoặc Bắc, các nhân vật thoáng qua, mờ nhạt trong kịch bản, bà Lụa Hà vẫn khắc sâu ấn tượng vào vài thế hệ người xem. Các nhân viên ở hiệu sách nhìn bà, nói khẽ với nhau về các vai bà đóng. Với bà, đôi khi bà có cảm giác kịch giữa cuộc đời, và hơn ai hết, bà rất tinh tế để hiểu đâu là kịch, đâu là không thể kịch giữa đời thật hàng ngày, ai có thể "diễn", ai không thể "diễn" trong đời sống. Là người từ chối mọi mời gọi tiến thân trên phim trường bằng mọi cách "lót đường" ("đóng thuế thân" bằng tiết hạnh và lương tâm trong các cảnh ''câu khách''!), bà hiểu nỗi đau Song Mây, và còn hiểu với giác quan nghề nghiệp - thứ giác quan có được do sự chuyên tâm vào nghề nghiệp ban tặng. Lúc này, bà cảm thấy thật sự xúc phạm Song Mây nếu dùng giác quan diễn viên để thẩm định nỗi đau của cô, cô sinh viên gần gũi và bà yêu quý nhất ở Sen Trắng. Bà mong anh Mai Tự sớm mang sách ra, để bà cùng ba người tuổi trẻ bước ngay ra khỏi vuông sân rợp bóng mát này.
- Gọi tắc xi trước đi, Hoàng à - bà bảo khẽ.
Hoàng đến quầy, xin nhờ điện thoại. Các cô gái đọc trên ngực áo thun của anh câu ca dao in bằng mực sơn đen: "Đêm đêm đốt đỉnh hương trầm, khói lên nghi ngút âm thầm nhớ quê", và cả bài ca dao có "bát canh rau muống, chén cà dầm tương" sau lưng áo anh. Họ thấy đó là chiếc áo thời trang một cách cổ điển như các chiếc nón bài thơ có thơ và hoa của xứ Huế và xứ Nghệ. Anh xin gửi tiền điện thoại. Một cô gái nói, cho anh được nợ trả ở lần mua sách sau. Hoàng mỉm cười cảm ơn.
Xe tắc xi đến cũng vừa lúc anh Mai Tự mang sách ra. Hoàng nhận sách. Bà Lụa Hà vào quầy thanh toán tiền với tấm phiếu vi tính mới cầm. Anh Mai Tự chạy theo bà nói khẽ:
- Cháu thanh toán rồi, bác ạ. Kính tặng bác ông ở nhà...
Bà Lụa Hà trách, áy náy. Rồi họ bước ra vuông sân, cùng ba bạn trẻ ra xe. Anh Mai Tự tránh nhìn Song Mây, cũng không nói gì với cô để giữ kẽ cho nhau.
- Vẫn học ngữ văn Việt chứ? - anh Mai Tự hỏi Hoàng, chờ tắc xi lùi vào hẻm để trở đầu sau khi tài xế rõ địa chỉ.
- Vâng. Sẽ học cho hết học trình cử nhân. Ba Hoài Hương bảo, phải học tiếng Việt và hồn Việt mới nên người Việt được. Học xong mới về lại Mỹ. Phải về Mỹ, anh à.
- Vậy sao? Tôi lại phải học tập hai bạn: Chiếc áo này và áo tứ thân kia chỉ là cái bề ngoài, nhưng cái bề ngoài cũng dần dần làm nên cái tâm hồn bên trong, giữ gìn cho cái tâm hồn bên trong ấy. Xin phục hai bạn đấy. Ai tạo mẫu vậy?
- Chị Y Sông, từ cuốn sách của Tre Trúc. Tre Trúc, chị ấy, có tham khảo sách của anh. Anh có đọc danh mục sách tham khảo?
- Tôi biết. Cho gửi lời chúc mừng nhé. Tre Trúc quá giỏi, quá tâm huyết. Tôi đã sa sút quá... - giọng anh Mai Tự chợt nghẹn lại.
Ngồi trong xe, bà Lụa Hà nói qua khung cửa mở:
- Phải đến Sen Trắng nhé. Không có gì quý hơn tình nghĩa đâu. Cơ Dân và Hãng cứ tìm anh mãi đấy, anh Mai Tự à. Ông nhà trách anh tệ tình, buồn lắm. Phải đến ngay sau giờ nghỉ nhé. Ở đời có cái gì quý hơn tình nghĩa nào? - bà Lụa Hà chợt xúc động.
Song Mây ngả lưng vào ghế xe. Nghẹn ngào, sững đờ. Cô hoàn toàn trống rỗng, vô hồn. Hoài Hương siết chặt tay bạn gái đang lạnh ngắt.
Tiếng cửa xe đóng. Xe chạy như trôi lướt trên đường phố. Anh Mai Tự đứng sững, trông theo, vừa buồn, vừa mừng - buồn cho mình, mừng chút tình nghĩa vừa tìm lại được, tình nghĩa ngỡ đã đổ vỡ, tiêu tan, thay vào là oán hận, khinh bỉ. Niềm yêu dấu Song Mây lại xao xuyến trong tim anh. Lúc này, câu nói cửa miệng, "để làm gì nhỉ!", hầu như đã được xóa sạch nét nghĩa trắng xoá hư vô chủ nghĩa của nó, như hôm nào đã lâu.
Bước vào hiệu sách, anh nhớ đến cuốn sách của Tre Trúc, nhớ đến Hãng, anh Cơ Dân, ông Hương Chữ, nhớ đến các gương mặt thân quen trọ học hoặc thường xuyên lui tới Sen Trắng.


Xin xem tiếp phần III (từ đoạn 32 đến đoạn 36/ kết)

TRẦN XUÂN AN

SEN ĐỎ,
BÀI THƠ HÒA BÌNH
tiểu thuyết
1999



tác giả giữ bản quyền

NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
2003
(có kiểm duyệt vài dòng trong bản đã xuất bản)

trọn cuốn tiểu thuyết gồm 3 phần
(I, II & III)
XIN VUI LÒNG ĐỌC TỪNG PHẦN
TỪ DƯỚI LÊN TRÊN
THEO SỐ THỨ TỰ CỦA MỖI PHẦN



LỜI THƯA TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN

Trong tiểu thuyết này chắc chắn có một vài chi tiết khiến độc giả này hay bạn đọc kia không hài lòng. Nhưng biết làm thế nào được, bởi một tác phẩm luôn gắn liền với một giai đoạn lịch sử nhất định, và nhân vật không thể không có cá tính, tư tưởng riêng. Quan điểm của các nhân vật, với tính đa dạng, gồm nhiều khía cạnh, sắc độ cụ thể, không nhất thiết là quan điểm của tác giả, mà chỉ là phản ánh của xã hội (hay ít ra cũng một bộ phận xã hội). Xin người đọc vui lòng hình dung ra những năm gần đây của giai đoạn ĐỔI MỚI, 1990 – 2000, trong bối cảnh Miền Nam Việt Nam…
Trân trọng và cảm ơn.


Tác giả,
TRẦN XUÂN AN.

Phần I

1995



1



Cô gái mở to mắt với những tia vui mừng nhìn vào tấm biển số nhà. Tấm biển bằng đồng khoảng bằng cuốn vở, màu đồng đã ngả sang nâu xỉn, nhưng vẫn đọc được những chữ và các con số trên đó. Tre Trúc đứng bên chiếc xe đạp của mình, hơi bối rối. Cô sinh viên này không ngờ ngôi nhà cô muốn tìm theo mẩu tin nhỏ đăng trên báo lại là một biệt thự! Tre Trúc nhìn tờ báo, tấm bản đồ chỉ đường đã được gấp lại trong giỏ xe trên vè trước. Cũng hơi tần ngần, cô lại ngước lên.
Nắng buổi sáng pha thêm màu vàng chanh trên hai bức thành được tô bằng đá rửa, đắp nổi hình các đóa sen, lá sen màu trắng. Cổng biệt thự, Tre Trúc đang ngần ngại nhìn, cách đều hai bức thành kia. Cô lại đọc kĩ một lần nữa bốn chữ ''Biệt thự Sen Trắng'' khắc vào tấm biển đồng. Số nhà Tre Trúc đã nhẩm thuộc trong óc cũng đang trước mắt, không thể nhầm được. Cô hiểu có lẽ chủ nhà khiêm tốn nên lúc đăng tin lên báo, cố giấu hai chữ ''biệt thự'' đi, khiến cô cứ ngỡ Sen Trắng là tên của một cửa hàng, cửa quán. Hóa ra, là thế này đây.
Tre Trúc siết nhẹ ghi đông cho đỡ ngần ngại, rồi dựng xe lên bằng chiếc chân chống. Cô buộc lại mái tóc dài xõa xuống ngang lưng. Nhìn vượt qua đỉnh bức thành, qua màu xanh của cây lá kiểng, Tre Trúc lại bắt gặp cụm tượng Sen Trắng trên sân thượng của tòa nhà. Có lẽ phải gọi đầy đủ hơn, ấy là Sen trắng và Chuông trắng. Tre Trúc bất giác mỉm cười một mình, thấy lòng đã bình tâm trở lại.
Bấm ngón trỏ vào nút chuông, Tre Trúc hơi giật mình, khi nghe vang lên tiếng chuông chùa. Mặc dù âm thanh không lớn, ô vẫn ngẩn ngơ nghe ngân nga trên ngực. Quả là một kiến trúc với sáng kiến độc đáo.
Người đàn ông khoảng bốn mươi lăm tuổi ló mặt sau ô cửa nhỏ ở cổng sắt, mỉm cười:
- Cô là sinh viên Quảng Trị?
- Dạ, vâng... - Tre Trúc đáp với nụ cười rụt rè.
Sau tiếng kéo then, một cánh cổng rộng mở. Bánh sắt dưới đáy cánh cổng lăn trên một đường ray hình cung đã ngừng lại. Vẫn nụ cười niềm nở hơi gượng gạo, người đàn ông khẽ dang một cánh tay mời Tre Trúc vào nhà.
Trên lối đi lát đá ngập nắng, vài ba chiếc xe đạp, xe gắn máy đang dựng. Sau khi dựng xe đạp của mình cạnh đó, cô theo người đàn ông bước lên các bậc cấp vào phòng khách. Tre Trúc hơi lo bởi thấy đã chậm chân. Trên ghế xa lông, các ghế nhựa khác, gia đình chủ biệt thự và bốn sinh viên đang chuyện trò làm quen nhau. Tre Trúc cúi đầu, khẽ chào.
- Ngồi đó đi, cháu - cụ già khoảng bảy mươi tuổi dịu dàng nói với giọng Quảng Trị.
Tre Trúc khẽ dạ, ngồi xuống cạnh người bạn gái chắc hẳn cũng là sinh viên đồng hương. Ngoài cô gái đang mỉm cười chào, cô còn thấy ba sinh viên nam khác.
Người đàn ông trung niên hồi nãy rót thêm một li nước, đặt trước mặt cô:
- Uống nước đi nhé. Đây là đồng hương cả mà.
Lần nữa, Tre Trúc khẽ cảm ơn.
Cụ già cười thân thiện:
- Cháu mới đến tên gì? Ở huyện nào ngoài mình đấy?
- Dạ, cháu quê ở Hải Lăng, nhưng ba má cháu vào Đắc Lắc mười mấy năm rồi, thưa ông.
- Thì ra đều là dân Quảng Trị xa xứ cả - ông cụ nhân tiện giới thiệu cho Tre Trúc rõ - Ba bạn sinh viên này đều gốc ngoài mình nhưng cũng xa xứ. Người ở Long Xuyên, người ở Phan Thiết, người ở Tam Kỳ... Chỉ mỗi Trần Ngát Gió vẫn đặc Quảng Trị... - ông cụ giới thiệu tên từng người.
Bốn sinh viên mỉm cười với Tre Trúc. Cô cũng mỉm cười đáp lại, thấy bao nhiêu lo âu, hồi hộp đã tan biến mất.
Người đàn ông nhặt cây bút trên bàn, kéo tờ giấy lại ngang tầm đặt bút, hỏi Tre Trúc:
- Cô được gọi là gì?
- Dạ, Phan Lưu Tre Trúc.
- Năm thứ mấy ở đại học?
- Dạ, năm thứ tư, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thưa chú.
Người đàn ông mỉm cười. Cái bớt khá lớn, cỡ bằng một lóng tay, trên mép phải khẽ máy động. Anh hí hoáy viết rồi nói:
- Thế này nhé, Tre Trúc mới đến, chưa nghe ông cụ nói. Hồi nãy, có các bạn đây, ông cụ đã bảo, đến trọ tại nhà này, không phải tốn tiền nong gì cả, nhưng cơm nước phải tự túc lấy... Chỉ có một điều, là không nên tiếp khách trong nhà vì nhà cần sự yên tĩnh. Đầu hẻm, có quán nước bình dân, có thể xem như phòng khách của các bạn. Chỉ vậy thôi, còn mọi thứ, hãy xem nhà này là nhà của mình.
- Dạ, xin cảm ơn ông và chú - Tre Trúc hơi bất ngờ. Cảm thấy mừng trước một sự may mắn, cô hơi ngượng khi phải nói thêm - Thưa chú, cháu còn có một người em trai đang học năm thứ nhất nữa ạ... Và... - cô ấp úng.
Người đàn ông lại cầm bút:
- Tên gì vậy, Tre Trúc?
- Dạ, Phan Lưu Đất, Đại học Khoa học tự nhiên.
Đợi người đàn ông trung niên viết xong dòng chữ, ông cụ nói:
- Vậy là sáu sinh viên rồi. Chắc cũng vừa đủ chỗ, Cơ Dân nhỉ?
- Dạ, theo dự tính của ba là sáu.
Ông cụ mỉm cười, nhìn những người đồng hương trẻ tuổi. Tre Trúc thoáng hụt hẫng, định nói thêm, nhưng thấy không tiện.
Đấy là cụ già tóc đã bạc nhưng nước da vẫn còn tươi sắc, trông rất khỏe mạnh. Đôi mắt cụ đặc biệt tinh anh với tia nhìn hiền hậu, trên gương mặt chữ điền đang hiện rõ nét vui.
Sau một lúc khá lâu nghĩ ngợi, tự xếp đặt việc trọ học cho em, Tre Trúc mới chợt nhận ra vẻ giản dị, hơi đơn sơ nữa là đằng khác, trong phòng khách của tòa nhà rộng lớn và bề thế này. Vách trong nhà quét vôi xanh nhạt. Từ chân vách lên cỡ một mét, lại tô đá mài màu lam đậm có những hoa văn là đoá sen, lá sen màu trắng. Hồi nãy, khi mới từ cổng vào sân, Tre Trúc đã kịp thấy trong thoáng bối rối, cũng cách trang trí này ở tường ngoài. Cả một biệt thự nơi nào cũng sen trắng với sen trắng! Tre Trúc cũng không ngờ phòng khách lại đơn sơ đến vậy. Ngoài lan can cầu thang, bộ xa lông gõ (gụơ) đen bóng, chỉ thấy thêm trên vách là những cây đàn bầu, đàn tranh, đàn đáy, cả đàn nhị, khèn và sáo nữa, cuối góc phòng là một bộ dương cầm. Tre Trúc bất giác mừng thầm khi đoán đây là nhà của một nghệ sĩ. Cô suýt mở miệng hỏi song ngần ngại, rồi thôi.
Có lẽ quên là đã có lần gọi tên người đàn ông trung niên, ông cụ cởi mở sau khi nhận ra câu hỏi không nói của cô:
- Cháu Tre Trúc mới đến, chưa biết tên bố con nhà mình. Ông là Đặng Hương Chữ, cán bộ phát hành sách đã về hưu, rất mê âm nhạc nhưng không đến đâu cả. Còn đây là con trai của ông, ''lượm'' được nó trong một lần giới thiệu sách với lực lượng thanh niên xung phong - ông Hương Chữ bật cười - Nhạc sĩ Ông Đan Dân nổi tiếng đấy, còn gọi là K'Dân.
Những tiếng ồ ngạc nhiên, thích thú nổi lên trong phòng khách. Anh Cơ Dân mỉm cười:
- Các bạn chắc đã có lần nghe nhạc của mình? Cũng tàm tạm chứ?
- Cháu thuộc nhiều bài của chú, rất mê những bài viết có âm hưởng Tây Nguyên - cô gái ngồi cạnh Tre Trúc thốt rất hồn nhiên - Nhưng không ngờ chú còn có tên K'Dân.
- Thưa chú, cháu cứ thắc mắc mãi, không biết chú có bà con gì với Ông Ích Khiêm người Quảng Nam không? - cậu con trai có nước da nâu, đã được mọi người biết tên là Đinh Nghị, chợt hỏi bằng giọng Nam Bộ.
Anh Cơ Dân lắc đầu rồi gật đầu:
- Có lẽ nghìn xưa cũng là ruột thịt. Tôi thuộc họ Ông ở Quảng Trị. Còn họ K' (Cơ) là của Tây Nguyên.
Cụ già cũng vui vẻ chuyện trò về âm nhạc với những người trẻ tuổi.
Lát sau, chợt vang lên một tiếng chuông thanh thoát từ trên sân thượng. Anh Cơ Dân vội ra mở cổng. Một người đàn bà khoảng tuổi sáu mươi xách giỏ bước vào sân, nói gì đó với anh Cơ Dân rồi đi thẳng ra nhà bếp, không vào phòng khách, bằng một lối rộng bên hông trái toà nhà.
- Bà nhà tôi đi chợ về đó - ông Hương Chữ nói lúc thấy những người trẻ tuổi đứng dậy định ra chào. Ông nói tiếp - Cứ ngồi đó, lát nữa bà ấy sẽ lên đây. Nhà này còn có hai đứa trẻ học cấp một và một cô chủ hiệu may, vợ con của Cơ Dân đấy. Nay có thêm sáu sinh viên các cháu nữa, vị chi là một tá rồi. Đông người cho vui nhà vui cửa.
Anh Cơ Dân đã vào nhà, ngồi chuyện trò thêm một lúc khá lâu, bàn cả việc đăng kí tạm trú tại cơ quan công an phường với giấy giới thiệu của trường đại học, vẫn chưa thấy bà Hương Chữ lên phòng khách. Tre Trúc đã mấy lần định xuống nhà sau chào bà, nhưng thấy thế thì đường đột quá. Cô cũng cảm thấy hơi thất lễ nếu không chào được bà.
Nắng đầu tháng chín đã chín rực rỡ ngoài sân cây kiểng. Những tia nước từ vòi phun giữa bể nước ở một bên sân lóng lánh ánh nắng. Tre Trúc đoán các viên sỏi trắng, trên lối đi quanh bể nước , quanh các cây kiểng xanh thắm, chắc đã nóng ran lên dưới ánh sáng chói chang nhường ấy. Cả một sân biệt thự rộng ngập nắng vẫn tươi tắn trước mắt cô, nổi bật là những đoá sen, lá sen trắng dọc theo các lối sỏi.
Vui mừng lẫn hụt hẫng trong tâm hồn Tre Trúc đã thôi xôn xao, đã bình ổn lại. Tuy còn phải tính liệu cho em gái là Song Mây, nhưng với tứ thơ Sen Trắng trong kiến trúc của biệt thự, Tre Trúc ngỡ mình đang ngồi ở thủy tạ hay trên khoang thuyền giữa đầm sen mùa hạ.
- Sinh viên Quảng Trị hầu hết học ở Huế... Chỉ thấy có mỗi Trần Ngát Gió nguyên chất ngoài mình tìm đến đây thôi - ông Hương Chữ nhìn cậu còn trai rám nắng đang ngồi cạnh anh Cơ Dân - Nhưng như thế cũng tốt. Chính gia đình này đều là dân xa quê... Y Sông cũng từ Vĩnh Long lên đây.
Gió nhìn ông Hương Chữ, mỉm cười. Anh hiểu những ai xa xứ mới có niềm đau đáu nhớ quê này. Gió định nói gì đó, chợt thấy bà Hương Chữ xuất hiện ở cửa sau phòng khách, anh đứng dậy chào bà. Qua những lời chào hỏi, Tre Trúc biết bà Hương Chữ vốn từ Quảng Trị ra Hà Nội sinh sống khá lâu trước khi di cư vào Sài Gòn này. Không rõ có nhầm không, Tre Trúc thấy bà hơi gượng gạo, không vui. Cô vẫn muốn nghĩ bà Hương Chữ chỉ do uể oải trong người nên bớt niềm nở với khách đó thôi. Tre Trúc bỗng nhận ra cô đã rất nhiều lần gặp bà, nhưng không nhớ đã gặp ở đâu. Nhìn bà, rồi nhìn ra sân nắng, Tre Trúc cố tìm trong trí nhớ, và chợt nhớ ra.
Bỗng vang lên một tiếng chuông chùa thanh thoát trên sân thượng. Anh Cơ Dân bước ra cổng.
Trên lối đi lát đá giữa sân, có lẽ là ba sinh viên đến muộn. Họ đang ngỡ ngàng bước vào phòng khách, như đang bước trên chiếc cầu để vào nhà thủy tạ xây nổi trên đầm sen. Cách xếp đá lát theo kĩ thuật đánh bóng, với các ô chữ nhật và các ô vuông, tạo độ cong trên mặt phẳng của hội họa, cho Tre Trúc ảnh ảo về chiếc cầu vồng duyên dáng và bề thế.



2



Hai cụm xương rồng đang tỏa sáng, soi ánh sáng vào nhau trên bờ bể nước ở một bên sân. Tuy đúc bằng bê tông với đường nét kỉ hà cách điệu, tô với đá vụn rồi mài nhẵn, được gắn thêm dăm bóng đèn làm nhụy hoa trên đài hoa, trong các cánh hoa cũng bằng xi măng, hai cụm xương rồng đẹp một cách giản dị. Cùng với ánh sáng đèn từ trong tòa nhà, hai cụm xương rồng đang toả hương ánh sáng cho những người trong gia đình ông Hương Chữ trò chuyện. Cuộc chuyện trò này còn có một người khách thân thuộc. Đó là Hãng. Hãng đang học năm cuối ở Đại học Kiến trúc.
Anh mỉm cười lắng nghe, thi thoảng mới góp chuyện. Hãng đã biết ý định của ông Hương Chữ về việc cho sinh viên đồng hương ở trọ từ một hai năm về trước. Cũng như bà Lụa Hà, vợ của ông Hương Chữ, cũng như anh Cơ Dân với vợ con anh, Hãng hiểu tâm trạng của cụ già hơn bảy mươi tuổi này. Ông Hương Chữ sau Ngày Thống nhất, từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh đoàn tụ với hai cụ thân sinh, và công tác tại một cửa hàng sách. Ông gặp lại người yêu cũ là bà Lụa Hà, nối lại một chuyện tình trước năm năm tư ở Hà Nội. Họ thành vợ chồng, lúc bà Lụa Hà đang tuổi bốn mươi, nhưng có lẽ đã hơi muộn nên không có chung một đứa con nào. Hồi họ cưới nhau, ông Hương Chữ đã trở nên đơn lẻ, bởi vợ và ba đứa con trước đây của ông chẳng còn ai sống sót sau đợt phố Khâm Thiên bị dội bom. Còn bà Lụa Hà vẫn sắt son với tình yêu ngỡ đã vô vọng. Biết vô vọng trong ý nghĩ của bà hồi đó, bà vẫn đợi chờ ông, nên vẫn độc thân cho đến ngày hai người thành chồng vợ ở thành phố này. Vài năm gần đây, ông Hương Chữ bỗng da diết nhớ quê nhà Quảng Trị. Ý tưởng biến ngôi biệt thự ông được hưởng quyền thừa kế từ hai cụ thân sinh, thành nhà trọ cho sinh viên đồng hương đã đến với tâm tư ông. Ông đã do dự, phân vân, rồi dứt khoát bày tỏ, giữ vững ý định của mình, mặc cho bà Lụa Hà càu nhàu, cho ông đã già sinh tật chướng. Anh Cơ Dân và vợ anh là chị Y Sông cũng rất đỗi ngạc nhiên, hơi tiếc nuối cho sự yên tĩnh, sạch sẽ của tòa nhà, vẫn không dám nghĩ ông đã phát rồ.
Hãng thấy lúc này, khi ngồi quanh chiếc bàn tròn bằng nhựa trắng, ngoài ông Hương Chữ với nét mặt thanh thản, hai đứa con anh Cơ Dân đang chơi đùa hồn nhiên, những người còn lại đang cố vui một niềm vui gượng gạo. Trong bóng đêm từ nền trời tỏa xuống và trong ánh đèn từ hai cụm xương rồng, từ trong nhà tỏa lan trên sân, Hãng thấy bà Lụa Hà hình như vừa ngao ngán, vừa buồn cười, nhưng có lẽ bà đành cam chịu. Anh cũng đọc thấy ở bà niềm xót xa hoà lẫn với yêu thương bà dành cho ông, người gắn bó với chính số phận mình. Có lẽ hơn ai hết, bà hiểu tình cảnh vợ chồng già không con cháu.
Nãy giờ, Hãng rất dè dặt khi góp chuyện, nhưng từ lúc nhận ra sự việc đã ngã ngũ, anh thấy không nên gợi lại những băn khoăn, không bằng lòng của họ trong vấn đề này nữa. Song ông Hương Chữ chừng như vẫn áy náy vì sự quyết đoán của mình.
- Thì các cháu ấy trọ ở nhà mình cũng như tôi năm xưa trọ ở nhà bà ngoài Hà Nội ấy mà. Hồi ấy... bà còn nhớ không? - ông Hương Chữ mỉm cười, xa vắng.
- Nhưng vẫn tùy người, tùy thời. Hồi đó ''nhờ'' gia đình bên tôi khó khăn, phải tính chuyện cho học trò trọ học, nên mới gặp ông - bà Lụa Hà với giọng Quảng Trị đã hơi pha đang vừa nói vừa cười. Rồi giọng bà chợt vui vẻ hẳn - Đâu cũng vào đấy rồi. Một tháng nữa các cháu lại đến ở nhà mình. Vấn đề còn lại là tính chuyện sửa chữa cái nhà kho bỏ hoang hai mươi mấy năm nay - bà nhìn vợ chồng chị Y Sông, hai người đã mười chín năm nay trở thành con và dâu của ông bà - Nhà còn rộng, ở riêng làm gì hở Y Sông?
Chị Y Sông cười gượng, có vẻ hơi mắc cỡ:
- Dạ, vâng. Nhưng con thấy, chúng con nên xin chữa lại cái nhà kho thành nhà ở. Anh Cơ Dân sáng tác nhạc, cũng cần yên tĩnh, cách biệt với mấy cô cậu sinh viên một chút.
- Đó là hỏi lại vậy thôi. Thế là ổn cả rồi. Trong khuôn viên nhà, có một cái kho hoang, đôi lúc gây cảm giác sờ sợ. Vậy cũng hay đấy - bà Lụa Hà cố nuốt tiếng thở dài.
Cô bé Y Cao dẩu môi, giọng đặc Nam Bộ như mẹ:
- Cháu chẳng chịu ở kho đâu. Cháu ở với ông bà thôi.
- Trong kho rết nhiều lắm đó - sực nhớ cú cắn nhức nhối của rết trên mu bàn tay nó năm kia, Cơ Nguyên rưng rưng với chút hốt hoảng chưa quên.
Hãng bật cười, vỗ vào lưng chú bé Cơ Nguyên:
- Yên tâm, yên tâm! Cái kho sẽ sáng choang, đẹp đẽ, đố có một con rết, con gián nào dám mon men đến. Chính chú sẽ chữa lại thành nhà, mọi chi tiết đều theo lệnh của Cơ Nguyên và Y Cao mà.
- Thật hả chú? - Cơ Nguyên cười toe, thấy mình quan trọng hẳn lên.
- Thật một trăm phần trăm - Hãng cười.
Ông Hương Chữ hỏi anh Cơ Dân:
- Bao giờ khởi công hả con?
- Dạ, trong tuần tới. Tất cả đều do ông ''nhà thầu sinh viên'' này lo - anh Cơ Dân nheo mắt cười với Hãng - Này Hãng, tranh thủ trổ tài đi nhé. Có hai cô sinh viên xinh lắm, hai cái tên cũng rất ngộ nữa: Trần Thương Trắng Cát với lại Phan Lưu Tre Trúc - và anh Cơ Dân cười thật vui.
- ọó, đó, cũng như tôi với bà ngày xưa ấy mà, cũng từ chuyện trọ học thế này - ông Hương Chữ nói, cười với nụ cười của bà Lụa Hà đang bật ra thành tiếng - Cố gắng trổ tài nghe Hãng!
Những tiếng cười giòn, tươi vui vang lên giữa mảnh sân bên phải tòa nhà, dưới bóng đêm, trong ánh đèn, tạo nên một khung cảnh trẻ trung, huyền ảo.
- Này Hãng, thật ra là có thêm một cô em gái của Tre Trúc... có điều mình chưa thấy mặt, chỉ biết tên: Song Mây. Cái tên cũng vui vui đấy chứ? Còn Ô Châu, Hoài Hương nữa!
- Ban đầu chỉ dự tính khoảng sáu hoặc bảy sinh viên. Cuối cùng phải khóa sổ ở con số mười - ông Hương Chữ nói - Tre Trúc chỉ dám xin thêm cho thằng Đất, nhưng mình biết nó còn có một đứa em gái. Hai đứa em này đều mới vào năm nhất. Thôi thì cho cả ba chị em nó trọ luôn thể. Hóa ra, ông nội của Tre Trúc là bạn học cũ của mình! Đời cũng hay thật.
Anh Cơ Dân vỗ tay vào đùi Hãng:
- Tre Trúc ''kháu'' lắm, anh biết thế nào Hãng cũng trổ hết tài phen này cho xem! - anh Cơ Dân cười.
Hãng hơi ngượng, cố ra vẻ đùa:
- Năm thứ mấy rồi anh?
- Năm thứ tư, khoa ngữ văn Việt nữa chứ! ''Hết ý'' đấy nhé!
Hãng đỏ mặt trong tiếng cười của mọi người cùng lúc hướng vào anh. Anh vuốt những sợi tóc đang xòa trước trán do cái lắc vai bởi bàn tay của anh Cơ Dân.
- ọược, anh yên tâm. Mươi ngày là cái kho thành nhà mới thôi mà - Hãng nói.
Những tia nước nhỏ từ giữa bể nước vẫn phun lóng lánh sáng. Hãng nhấp một ngụm nước từ chiếc li lạnh buốt trên bàn. Anh nhìn ra xa, bắt gặp bức thành trước mặt tòa biệt thự đang mờ sáng rất huyền ảo những đóa sen, lá sen màu trắng. Bất giác, Hãng mỉm cười bâng quơ.
Chuyện trò thêm một chốc, Hãng xin phép về. Anh Cơ Dân ra mở cổng tiễn Hãng. Khi đứng trước cổng, Hãng nói vui:
- Không biết mấy ''ông kẹ'' sinh viên có quậy phá không?
- Làm sao biết? Hầu hết là sinh viên năm thứ nhất. Ông cụ bảo thời gian sẽ sàng lọc. Nhưng chắc chắn Tre Trúc của Hãng mãi mãi thùy mị, hiền thục - anh Cơ Dân cười - ọừng lo!
- Anh làm em đêm nay khó ngủ! - Hãng cười lớn, khởi động xe gắn máy - Thôi, em về nhé. Ngày mốt thợ đến làm.
Hãng cho xe ra khỏi con hẻm rộng, qua mấy khúc đường, rồi chạy thẳng một mạch về nhà tại Hóc Môn.



3



Khuôn viên cơ ngơi ông Hương Chữ khá rộng. Hai bên tòa biệt thự là một nhà để xe hơi, một nhà kho. Góc sau cùng của mảnh đất hình chữ nhật là nhà bếp. Từ nhà để xe bước lui nhà bếp chỉ một quãng ngắn. Nhà kho Hãng đang nhờ một toán thợ sửa chữa cho gia đình anh Cơ Dân nằm bên phải tòa biệt thự. Đó là ngôi nhà trệt có hai vách đầu hồi, ba vì kèo, có thể ngăn thành bốn căn. Nhưng cuối cùng, sau khi hội ý với anh chị Cơ Dân, ông bà Hương Chữ, Hãng chỉ xây thêm hai vách dưới hai vì kèo hai bên, để ngăn thành một phòng khách gồm hai căn ở giữa, hai phòng ngủ hai đầu. Phòng tắm và vệ sinh nhỏ thôi, xây phụ thêm với một phòng bếp áp sát vách đầu hồi phía sau. Ngôi nhà mở cửa trông vào hông biệt thự. Mặt tiền đang đúc thêm mái hiên có hành lang.
Khối lượng công việc cũng chẳng có gì nhiều, thế mà nhà kho, thấy đã khác, sáng sủa hẳn, gần thành một ngôi nhà đẹp.
Hôm đang lát gạch bông cho toàn bộ nền nhà, kể cả mươi mét vuông xây thêm, ông Nguyễn Hà Đông - anh ruột bà Lụa Hà - đến chơi. Ông Hà Đông khoảng sáu mươi lăm tuổi, dáng thấp đậm, trán hói bóng lưởng, da dẻ hồng hào, nom khá đẹp lão. Ông Hà Đông vỗ vai Hãng:
- Cậu thấy những người trong nhà dạo này vẫn bình thường cả chứ? - ông ta cười hinh hích - Chắc chưa ai phát rồ?
- Là sao ạ? - Hãng ngạc nhiên rồi chợt hiểu. Anh im lặng. Chợt thấy phải hỏi một câu gì đó cho có chuyện, Hãng cười - Bác về thăm Việt Nam lần này mấy tháng, thưa bác?
Ông Hà Đông đằng hắng:
- Chỉ ba tháng thôi. Cũng dự định hồi hương, kèm cặp cho thằng Triệu làm ăn. Tình hình bang giao đang thuận lợi - nói thế nhưng ông Hà Đông lại thở dài - Cậu vừa đi học vừa đi làm sao?
- Dạ, cũng tự tập sự cho vui thôi. Đầu năm học còn rảnh rỗi lắm. Chủ yếu là giúp anh Cơ Dân.
Im lặng một lúc, Hãng lại hỏi:
- Hình như ngày xưa, lúc xây biệt thự này, bác có đến đây chơi?
- Có. Trên ba mươi lăm năm rồi. Hồi đó ở khu này hoang vắng lắm. Hai ông bà cụ thân sinh ông Hương Chữ làm ăn rất giỏi nhưng chỉ khấm khá thôi. Mảnh đất này, mua chả mấy đồng - ông Hà Đông nhíu mày - Hồi đó xây nhà ở đây là hâm, thế mà giờ có giá. Nhưng hai bà chị ruột ông Hương Chữ đã qua Bỉ sống, ông Hương Chữ thì chả có tí nhau nào. Cũng phí thật!
Hãng hơi khó chịu. Ông Hà Đông chép miệng:
- Đây mà mở nhà hàng, khách sạn thì khỏi chê!
Chợt nghe một tiếng chuông chùa trên sân thượng, anh Cơ Dân đang chăm chú trông thợ lát gạch bông, chạy vội ra mở cổng.
Gã thanh niên đi xe gắn máy chạy vọt vào sân. Ông Hà Đông nói lớn:
- Thôi, trưa rồi. Quay xe chở ba về luôn đi Triệu.
Triệu khoảng hai mươi sáu tuổi, vội quay xe ngay. Chiếc Đờ-rim (Dream) màu mận chín bóng ngời dưới nắng. Ông Hà Đông chìa tay cho Hãng bắt:
- Nếu tôi là ông Hương Chữ, chắc cậu phải vụt trở thành công trình sư ngay - ông Hà Đông cười hinh hích - Thôi, chào nhé!
Chiếc Đờ-rim lao ngay ra khỏi cổng. Anh Cơ Dân khép cổng lại. Tiếng bánh sắt dưới đáy cánh cổng lăn trên đường ray hình vòng cung kêu ken két, có lẽ do độ mòn và sự giãn nở của sắt.
Tuy đã đội mũ rộng vành, gương mặt trắng trẻo của Hãng vẫn ửng đỏ, ràn rụa mồ hôi. Hơi bạnh quai hàm, tỏ vẻ khó chịu, Hãng rút khăn tay lau mặt. Ngẫm nghĩ một lúc, Hãng thấy ông Hương Chữ lẫn ông Hà Đông đều có lí. Anh thấy cuộc đời cũng vui thật. Hãng tự hỏi, nếu anh, một sinh viên kiến trúc sắp tốt nghiệp, là chủ của biệt thự này, anh sẽ quyết đoán thế nào đây? Đã nhiều năm quen thân với gia đình Sen Trắng, Hãng cũng ít nhiều biết về ông Hà Đông qua bà Lụa Hà và qua một vài lần tiệc tùng giỗ tết ở biệt thự này. Từ những năm sáu mươi, ông Nguyễn Hà Đông đã lao vào kinh doanh, nhanh chóng trở thành thương gia có cỡ, rồi lại trở nên kĩ nghệ gia - chủ một nhà máy sản xuất bột giặt khá nổi tiếng. Chắc hẳn ông Hà Đông phải có giác quan kinh doanh rất nhạy bén - Hãng nghĩ thế, nhưng chút cảm giác hơi khó chịu về ông Hà Đông vừa rồi vẫn còn vướng vất trong anh.
Đứng trên nền hành lang mới đầm đá dăm, ngước mắt nhìn mái hiên đúc chưa gỡ cốp pha, Hãng một lần nữa nhận ra cuộc sống thật đa dạng, và có lẽ nhờ đa dạng như thế nên cuộc sống đỡ buồn tẻ chăng.
Thoáng khó chịu với chút ác cảm vô thức chợt tan biến mất, trong Hãng lại nổi sáng lên với âm thanh vang khẽ, vang khẽ như tiếng dội, vọng lại, chuyền sâu ba tiếng ''công trình sư'', cơ hồ tâm tư Hãng là hang động thăm thẳm, sáng rực, tối tăm, mờ ảo. Và một công trình kiến trúc nghệ thuật hiện đại, nguy nga, đậm tính dân tộc như hiện rõ ngay trên khuôn viên rộng rinh này do chính trí tuệ, trái tim, bàn tay Hãng thiết kế, chỉ đạo xây dựng, khiến Hãng bàng hoàng, ngây ngất.



4



Đi học về, Hãng ghé vào hiệu sách của ba má. Tắt máy, khóa xe cẩn thận, Hãng bước vào, gặp ngay sau quầy văn phòng phẩm nụ cười của bà Hồng Tĩnh. Má Hãng đang chuyện trò với cô con gái của mình và hai người bạn thân của cô. Anh cũng đứng trước quầy hỏi mẹ về cuốn sách mới được xuất bản. Hãng rất vui khi công trình nghiên cứu của một giáo sư kiến trúc khá nặng nằm trên hai bàn tay anh.
Có vài người khách mới bước vào cửa hiệu. Bốn người trẻ tuổi chào bà Hồng Tĩnh, đi về cuối căn phòng khá rộng được mướn để kinh doanh sách này, nơi có chiếc bàn nhỏ giữa mấy chiếc ghế.
Lúa Ngọc, em gái của Hãng, đặt li dưới vòi bình nước, bấm nút. Chiếc phao ở khe thủy tinh có vạch chỉ mực nước trong bình bị đẩy xuống tận đáy, rồi thoắt vụt thẳng lên, trông thật sinh động. Bốn chiếc li bốc khói được đặt trên bàn. Lúa Ngọc nhẹ thả vào những vuông nén la hán quả. Cô lại mở ngăn đông của chiếc tủ lạnh nhỏ, lấy ra hai hộc nhỏ nước đá đã sủi tuyết.
Hãng đang chuyện trò với Vũ Thương Hoài và người yêu của cô. Hai người yêu nhau này đã tốt nghiệp đại học kinh tế cách đây vài tháng, đã kiếm được việc làm ngay tại một cơ quan thanh tra. Cũng nhờ ông thân của Thương Hoài, Lúa Ngọc cũng đã có nơi nhận hồ sơ xin việc. Thương Hoài cũng đã hứa với Hãng, sang năm, chắc chắn sau khi Hãng tốt nghiệp, bố của cô sẽ thu nhận Hãng vào cơ quan của ông ngay. Đó là công ti quốc doanh xây dựng nhà cửa, đúng ngành Hãng đang theo học.
Mấy năm nay, từ khi ông Vũ Hồng Ngà mua thêm một miếng đất khá rộng cạnh nhà gia đình Hãng tại Hóc Môn, Lúa Ngọc, Vũ Thương Hoài có dịp quen biết nhau rồi thân thiết với nhau. Thương Hoài có thần thế lại khá tốt bụng. Cô thuộc loại người rất hết mình với bạn bè một cách vô tư.
Vẫn cảm giác quý mến xen lẫn phần nào là sự ngượng ngập trước sự giúp đỡ, lại hứa hẹn sẽ giúp đỡ nữa của Thương Hoài, Hãng và Lúa Ngọc tự thấy mình hơi nhỏ bé đi trước cô bạn gái! Thương Hoài cơ hồ không hiểu, cũng không quan tâm đến điều đó. Cô vẫn tốt bụng một cách hồn nhiên. Lúc này, cũng như nhiều lần khác, Hãng mơ hồ đọc thấy ở người yêu của cô cảm giác mà anh em Hãng đang mang trong lòng. Ở Đào Hải, chàng trai đã hứa hôn với Thương Hoài, có thể không hề có cảm giác của người chịu ơn ấy. Biết đâu Hãng chỉ đọc thấy chính một nét tâm thế của anh trên gương mặt, nơi cử chỉ của Đào Hải thôi. Hãng suy bụng ta ra bụng người ở trường hợp này, biết đâu, chẳng đúng chút nào cả.
Bốn li la hán quả đang lấm tấm hơi nước đọng đã vơi một nửa. Chất nước giải khát thoang thoảng hương thuốc bắc này ngọt ơn ớn trong cuống họng của bốn người, nhưng cho họ có cảm giác mát mẻ, sảng khoái nhẹ nhàng.
Dưới ánh đèn ống trắng, họ tán gẫu về một bài báo mới đăng tải. Ngoài kia, khung cửa rộng của hiệu sách mở ra đường một ô chữ nhật ngập chói nắng với hai làn xe cộ qua lại.
Lát sau, Lúa Ngọc cùng hai người bạn sắp thành chồng vợ của cô chia tay Hãng. Lúa Ngọc về Hóc Môn ăn cơm trưa với ông bà nội. Hãng sẽ ăn cơm với ba má ở đây rồi nghỉ một lát, sau đó sẽ lên biệt thự ông Hương Chữ hướng dẫn toán thợ đang sửa chữa nhà cho anh Cơ Dân.
Tìm khăn lau mặt bàn ướt nước, dẹp mấy chiếc li, Hãng ngồi xuống, mở cuốn sách dày cộp về kiến trúc anh mới được mẹ cho hồi nãy. Hãng lật ngay phần mục lục cuối sách, nắm trước những vấn đề lớn cuốn sách đã trình bày để tiện tham cứu. Anh chợt vui lên vì cuốn sách trước mặt đào sâu vào một vấn đề anh rất quan tâm. Anh lại lật giở để xem một số trang có hình ảnh, những ảnh màu in trên giấy trắng bóng.
Chẳng hiểu sao anh lại liên tưởng đến cái tên Tre Trúc. Ồ, cả Đất và Song Mây nữa chứ. Những cái tên gợi lên cả một nền kiến trúc điền dã, tranh tre nứa lá. Bao nếp nhà tranh, bao lều mây đã quá thăm thẳm nghìn xưa, xưa như bùn đất làm phên, làm vách, xưa như tranh, như tre làm mái, làm cột kèo! Hãng đang nghiên cứu những vật liệu xây dựng, các trường phái kiến trúc hiện đại, nhưng những cái tên của những người bạn anh chưa được gặp, lại rất nóng lòng được gặp, sau lời giới thiệu rất đùa của anh Cơ Dân, vẫn gợi lên trong tâm hồn anh niềm cảm động về những gì rất đỗi nguyên sơ, rất đỗi quen thân như bao thứ đã nghìn đời máu thịt.
Hãng đã có kinh nghiệm bản thân, anh không muốn hình dung ra cô gái Tre Trúc theo cách của anh để rồi phải thất vọng. Có bao vẻ đẹp của nét mặt, dáng người và tính cách hoàn toàn khác nhau, khác nhau nhưng đều đẹp, cũng như cái đẹp đa dạng, phong phú của kiến trúc, của thiên nhiên trời đất...
Điều Hãng lo âu nhất là Tre Trúc rồi cũng như Thương Hoài! Thương Hoài đã cho anh một chút mộng mơ, vẽ vời, rồi hồn nhiên, vô tâm cho anh cả một trời tuyệt vọng, chua xót tuyệt vọng chỉ bởi một lẽ giản đơn, thường tình, Thương Hoài đã có người yêu! Hãng sợ phải nếm trải một lần nữa niềm chua xót tuyệt vọng như thế! Hãng cũng chợt nhận ra, trái tim anh còn quá dễ mộng mơ như tuổi mới lớn. Anh mỉm cười, dán mắt vào nền kiến trúc tre trúc nghìn xưa. Đâu phải nền kiến trúc dân dã ấy đã hết tiêu biểu cho nếp ở của phần lớn nhân dân mình và nhân loại ở những năm áp cuối thiên niên kỉ này.
- Hãng ơi, không đi đâu nữa thì ra dắt xe vào, chuẩn bị ăn cơm - bà Hồng Tĩnh nói vọng lui sau để nhắc con trai.
Hãng chợt nhớ, anh dạ, bước nhanh ra thềm cửa hiệu. Khi Hãng dắt xe vô, nhẹ bước ngang qua trước mặt, bà Hồng Tĩnh nói:
- Coi lại nồi cơm điện. Ba về bây giờ đấy.
Dựng xe xong, chỉ liếc mắt nhìn nút đèn màu cam ở nồi cơm, Hãng yên chí ngồi trước cuốn sách mở. Anh lại nhớ bổi hổi cô gái anh chưa một lần nào gặp gỡ! Nỗi nhớ trong anh hẳn không ai gọi là nỗi nhớ, nhưng vẫn đích thực là nỗi nhớ. Tâm hồn ăm ắp khát vọng yêu đương của anh tự hôm nào đã nhạy cảm vẽ vời ra một Tre Trúc mơ hồ rồi chăng? Hãng cũng không thật rõ.



5



Sau bữa cơm thân mật mừng nhà mới, ông Hà Đông, Nguyễn Đồng Triệu lên tắc xi ra về, Lúa Ngọc cũng chở mẹ về trước, Hãng cùng ông Phùng Thứ ngồi lại uống trà với anh Cơ Dân, chị Y Sông, vợ chồng ông Hương Chữ và anh Mai Tự.
Hãng đưa mắt nhìn quanh phòng khách, cũng là nơi làm việc của anh Cơ Dân. Chiếc tủ thờ đơn sơ bằng gỗ, bên trên là bộ lư đồng nhỏ, chân dung song thân anh đã được phủ vải điều. Đàn bầu, sáo trúc treo sau chiếc dương cầm đặt nhìn vào tủ thờ, phía trong vách giữa hai cửa mặt tiền. Áp sát dưới hai cửa sổ mới trổ ở hai bên tủ thờ là hai chiếc bàn. Bàn viết có thùng, hộc đựng giấy tờ là bàn làm việc của anh Cơ Dân. Bàn kia, chỉ mặt bàn với bốn chân, là nơi Y Cao và Cơ Nguyên học tập. Giá sách của hai cháu gắn luôn vào vách mới xây để chia căn. Tủ sách khá lớn có cửa kính tựa vào vách đối diện. Hãng nghĩ, đơn sơ thế thôi nhưng cũng đủ cả rồi. Mùi vôi mới quét, hương thơm của sơn từ cửa, từ trần nhà còn thoang thoảng, quyện vào nhau, lan tỏa khắp nhà cho Hãng cảm giác lâng lâng vì đã xong việc.
Anh Cơ Dân nhìn Hãng, bỏ lửng câu chuyện vui:
- Ngắm nghía lại tác phẩm của mình hay sao? Rất tiếc là Hãng chưa thi thố được gì. Cố gắng đợi anh chị làm ăn khấm khá đã nhé - anh Cơ Dân cười, cái bớt cỡ bằng một lóng tay, đen muồi, hơi chếch trên mép phải, khẽ máy động, trông têu tếu.
Hãng cũng cười:
- Quả là chưa có gì hay thật. Cũng không nhất thiết phải lộng lẫy, rực rỡ, hay đắt tiền mới đẹp... Công trình đôi khi nhỏ thôi, nhưng vẫn đặc sắc, độc đáo. Cũng như viết ca khúc! Đâu phải viết giao hưởng hay nhạc kịch mới hay - Hãng nói - Quả thật là chưa có gì... Em chỉ tiếc một điều là vách sau của nhà kho cũ xây sát với tường thành quá, nên trổ hai cửa sổ hai bên tủ thờ, chỗ đặt bàn giấy, bàn học tập, vẫn chưa thật thoáng để hưởng ánh sáng mặt trời và gió, cho dù là gió quẩn thành phố.
- Anh hiểu rồi. sáng tạo hoàn toàn mới kia mới thật đã, phải không? Chị Y Sông đang nhồi vốn với bột nở đấy!
Anh Mai Tự với dáng người hơi gầy, khoảng hai mươi bảy tuổi, đang giảng dạy môn ngữ văn Việt ở một trường trung học dân lập gần nhà ông Hương Chữ. Anh Mai Tự cũng là một người đam mê văn học dân gian, đã viết nhiều bài báo về lĩnh vực này, xuất bản được một cuốn sách từ những bài báo ấy. Anh động viên Hãng:
- Sửa chữa thôi đã được như thế là quá giỏi rồi, Hãng ạ. Mình rất phục Hãng ở chỗ không phá vỡ cấu trúc và sự hòa điệu của biệt thự. Đúng là hơi tốn kém một chút, nhưng thử hỏi Hãng không cho tô đá mài với những hoa văn sen trắng, cái nhà mới này sẽ làm hỏng tứ thơ của tổng thể này ngay. Cái kho trước đây kiên cố nhưng về thẩm mỹ lại chỏi quá.
Ông Hương Chữ cười to, thích thú:
- Mai Tự nói, mình mới thấy đấy. Hay, thế là hay rồi! - ông Hương Chữ lại cười thật sảng khoái - Còn cái nhà để xe phải gió kia nữa! Xe đã thành phế liệu ba đời tám hoánh đâu rồi!
Bà Lụa Hà nguýt mắt:
- Thôi, đừng bày vẽ nữa ông! Tôi mệt quá!
Ông Hương Chữ vẫn cười nhưng hơi cụt hứng. Ông nhấp một ngụm trà, đầu gật gù theo đuổi một ý tưởng nào đó chợt lóe lên trong óc. Ông Thứ thấy buồn cười, suýt bật cười thành tiếng. Y Cao và Cơ Nguyên đang xem truyền hình với mức âm thanh nho nhỏ, nghe tiếng cười ông nội nuôi, cũng quay lại cười, dù chẳng rõ ngô khoai gì cả.
Hãng chỉ im lặng cười mỉm. Hồi nãy, nói với anh Cơ Dân là nói vậy thôi, thật lòng Hãng vẫn ấp ủ hoài bão được thiết kế những công trình đồ sộ, hoàn toàn sáng tạo mới. Sửa chữa, tận dụng, lại chi phí ít, lúng túng biết chừng nào. Trong tâm thức Hãng, anh mơ hồ đồng nhất sự lớn lao về kích thước, quy mô với tài năng vĩ đại! Anh cảm thấy không thể có tính vĩ đại ở tầm kích bé mọn của thực thể nghệ thuật được. Anh không thể chấp nhận kiến trúc chỉ là thủ công mỹ nghệ! Thầy cô giáo trung học, các sĩ quan quân đội chỉ huy anh thuở anh còn trong thời hạn nghĩa vụ quân sự, cả thầy cô dạy đại học của anh, đều có một nhận xét gần giống nhau: Hãng chất chứa trong anh hai cực đầy mâu thuẫn và hơi hiếu thắng. Hãng cũng thầm cám ơn thầy cô giáo, thủ trưởng quân đội về nhận xét ấy. Hãng thấy anh hơi nhút nhát, lại lắm lúc cao ngạo trong lòng, cũng có khi hơi liều lĩnh để đạt cho được mục đích đặt ra, chẳng chịu bớt khẳng định mình. Riêng ở trường hợp sửa kho thành nhà này, tuy với câu đáp lời anh Cơ Dân vừa rồi, Hãng còn mâu thuẫn trong quan niệm kiến trúc nhiều lắm. Mâu thuẫn ấy, Hãng tự thấy, ở đó còn thể hiện lòng hiếu thắng. Hãng lại mỉm cười, im lặng, tự ngẫm nghĩ về bản thân. Lát sau, thấy câu chuyện sửa nhà chưa dứt, anh nói:
- Thật ra, chỉ đập hai ngọn đầu hồi, chạy thêm một khung giằng góc trên (1) để đúc mái hiên rồi xây lại, xây thêm nhà ngang áp sát vách đầu hồi, xây hai vách ngăn phòng, trổ cửa... Chỉ có thế, ông thợ nào làm cũng được. Có gì đâu mà kiến trúc với nghệ thuật... - Hãng tự thấy hơi buồn cười.
- Chỉ thế thôi, nhưng anh thấy không chỉ vậy. Và đó là nghệ thuật - anh Mai Tự lại động viên, nhìn Hãng khi nói, chợt quay qua ông Phùng Thứ, người đàn ông đã gần sáu mươi tuổi - Chú Thứ dạo này sao không viết báo trở lại, thưa chú? Báo chí đã hơi thoáng rồi...
Ông Thứ lắc đầu:
- Tôi với má cháu Hãng nghĩ cầm bút đã hơn hai chục năm rồi còn gì - vẫn quen thấy Hãng còn bé lắm, ông nói.
- Chú nghỉ làm ở Nhà Văn hóa quận luôn rồi sao?
Ông Thứ gật đầu:
- Bây giờ nhí nhố lắm, nghỉ là vừa... - ông Thứ nhếch môi nhưng không thành nụ cười - Mình cũng già rồi!
Câu chuyện tưởng đã rẽ sang hướng khác, nhưng ông Hương Chữ vẫn chưa dứt được ý tưởng trong đầu ông:
- Hồi nãy, ông Hà Đông lại có ý tiếc rẻ cho tôi. Ông ta muốn hợp tác với tôi để mở nhà hàng ở biệt thự này! Kì cục đến thế! Đây là nhà hương hỏa, thờ tự tổ tiên, cha mẹ, mà ông ta dám đề nghị vậy... Cho ở trọ là tận dụng quá rồi!
- Thôi, mình ơi - bà Lụa Hà như van vỉ - Máu kinh doanh của anh Hà Đông tôi còn lạ gì! Là em ruột của ổng, tôi chỉ đam mê điện ảnh, cũng thi thoảng đóng phim thôi - bà khẽ thở dài - Thôi, mình chúc mừng vợ chồng Y Sông với hai cháu rồi lên nhà trên thôi, ông à.
Ông Hương Chữ chỉ nói:
- Thế là vui mừng chung rồi. Mai mốt bọn trẻ đến trọ, Cơ Dân cho ba cái nội quy và quản lí giúp ba nhé. Chút tình với cố hương chỉ thế thôi... Yằ, có hai sinh viên Việt kiều đấy... Cũng hay... Người Quảng Trị tản mác khắp nơi! - một thoáng ngừng lại, ông nói tiếp - Các tỉnh khác dự định xây các kí túc xá cho sinh viên tỉnh họ tại thành phố này lâu rồi. Không khéo như thế lại càng đậm thêm óc cục bộ, địa phương, bản vị! - ông Hương Chữ đứng dậy, chìa tay về phía ông Phùng Thứ trước - Ngồi chơi nhé... Cho gửi lời thăm ông bà cụ ở nhà.
Một lát sau, cha con Hãng và anh Mai Tự cũng ra về.
Biết còn một chút men bia trong người, Hãng chở ba chầm chậm như đi dạo mát. Qua bến xe Tây Ninh, đường đã hơi vắng, Hãng mới cho xe gắn máy chạy nhanh hơn. Ngồi ở phía sau, từ nhà ông Hương Chữ đến tận Hóc Môn, ông Phùng Thứ vẫn không nói gì, chỉ trả lời nhát gừng dăm câu hỏi của con trai. Thấy ba không muốn chuyện trò, Hãng cũng im lặng chạy xe, nghe gió ban đêm dọc đường càng lúc càng thoáng mát.



6



Sáng sớm này Hãng nghe nôn nao đến lạ. Vốn rất ít khi hút thuốc lá, anh cũng gọi thêm vài điếu sau khi chị chủ quán bưng li cà phê đen ra. Nhấp vài ngụm trà trong lúc đợi những giọt nước đen nâu, thơm và đắng rơi xuống đáy li, Hãng nhón tay cầm một điếu thuốc nơi chiếc đĩa sứ màu hoàng lưu li. Hai điếu thuốc còn lại, màu trắng nổi bật trên sắc men đậm đà, tươi tắn ấy. Kẹp nhẹ điếu thuốc giữa hai đầu ngón tay, chưa vội châm lửa, Hãng thấy mặt bàn hình chữ nhật nhỏ giống hệt một bức tranh tĩnh vật treo bên cạnh bàn viết của ba. Hãng mỉm cười với một thoáng xúc động. Anh lại nhìn ra mặt đường hẻm tráng nhựa loang loáng nắng nơi dăm vệt nước mưa chưa kịp khô. Anh chỉ chú mục vào những ai đi vô hẻm, phớt hẳn bao kẻ ngược chiều. Thỉnh thoảng, Hãng phóng tầm mắt ra xa, về phía trong của hẻm, để ý chiếc cổng sơn màu lam của biệt thự Sen Trắng.
Hãng chờ Tre Trúc, mặc dù anh chưa lần nào được gặp cô, và cũng ngượng nên không hỏi kĩ đặc điểm của cô ở anh Cơ Dân. Có thể cũng không phải là ngượng, anh chỉ vờ như không quan tâm. Lại mỉm cười một mình, Hãng kịp nhận ra trái tim anh hơi đa tình, đa tình bâng quơ! Lúc này, Hãng như một nhà thơ thích phiêu lưu tình cảm, phiêu lưu một cách chân thành! Có điều không phải đa tình, phiêu lưu trái tim vốn nhạy cảm cho thiên hạ như nhà thơ, Hãng đang yêu cho anh, tuy chỉ khởi từ chút mộng mơ hôm nọ.
Suốt tháng trời nay, Hãng nhớ một người chưa quen, đôi khi cũng bổi hổi bồi hồi, nhưng chưa bao giờ muốn hình dung ra một cô gái với những đường nét, cử chỉ cụ thể.
Kìa, có vài anh bạn sinh viên đã bấm chuông ở cổng Sen Trắng. Hãng cảm thấy nôn nao hơn. Nhưng nhỡ chiều nay hay mai hoặc mốt, Tre Trúc mới đến trọ thì sao? Hãng thấy mình cắc cớ, vô duyên thật! Sáng chủ nhật, có lẽ vẫn là thời điểm thích hợp nhất để dời chỗ trọ. Vả lại, theo lời ông Hương Chữ ấn định với nhóm sinh viên, Hãng vẫn tin anh sẽ gặp Tre Trúc vào sáng hôm nay, và chắc chắn chỉ nửa giờ, một tiếng hoặc vài phút nữa thôi là sẽ gặp. Hãng cũng thử phác họa trước lần gặp gỡ này! Anh châm thuốc, cho đường vào li, khoắng nhẹ, nhấp ngụm đầu tiên. Hơi khói có mùi bạc hà vẫn nồng đắng trong miệng, cộng với vị ngọt đắng của cà phê, cho Hãng cảm giác ngây ngây. Hãng đã có một ''kịch bản'' soạn trước trong óc, xem ra cũng ấn tượng đây. Hãng muốn bật cười.
- Anh Mai Tự! Anh Mai Tự! Vào đây đã - Hãng vụt đứng dậy, kêu vóng lên.
Phanh lại, mỉm cười khi nhận ra Hãng, anh Mai Tự quay đầu chiếc xe gắn máy đã cũ, dựng cạnh xe bạn, rồi bước vào quán.
Gọi nước uống xong, anh Mai Tự nhìn Hãng, tháo cặp kính râm đặt xuống mặt bàn:
- Sao lại ngồi đây một mình? Anh Cơ Dân đâu rồi?
- Có lẽ trong nhà ảnh chứ đâu - Hãng cười mỉm, rồi cố cười tự nhiên, trọn nụ - Lâu lâu, ngồi một mình cho vui.
Anh Mai Tự hiểu kiểu chữ ''vui'' của Hãng là ''lạ'', cảm giác khác với thường lệ: cảm giác một mình.
- Thỉnh thoảng phải vớ vẩn một chút chứ! - Hãng lại nói, nhưng tự bảo trong tâm hồn anh đâu chỉ một mình.
Và Hãng nhướng mắt nhìn ra, thấy năm chiếc xe đạp có chở va li, ba lô, cặp da. Ba cô gái! Hãng chú ý ba cô gái đi cạnh hai chàng trai. Ngay lập tức Hãng đoán là hai cô gái khá trắng trẻo kia là chị em Tre Trúc, còn Trắng Cát hẳn là cô gái có làn da bồ quân với mái tóc dài xõa ngang lưng. Ồ, sao lạ thế nhỉ, cô nào cũng có dáng dấp khá đẹp, và sao cái tên Trắng Cát lại của cô gái có làn da bồ quân!
- Chắc nhóm sinh viên trọ học đấy - anh Mai Tự nói, giọng khá bình thản.
Hãng nghe rộn lên trong lòng, hơi thất vọng một chút. Giá như Tre Trúc là cô gái có làn da nâu tươi tắn với mái tóc dài kia, cô gái anh cho là xinh đẹp nhất!
Nóng lòng nhưng phải đợi anh Mai Tự uống xong li sữa đậu nành, Hãng mới rủ anh Mai Tự vào biệt thự Sen Trắng . Lúc này hẳn mười sinh viên đều đến đủ, nếu kể cả hai cô cậu Việt kiều vừa đến bằng tắc xi.
Hãng bấm chuông. Một tiếng chuông chùa ở sân thượng tầng hai vang lên, khẽ ngân trên ngực anh. Một gương mặt hiện ra ở ô vuông trên cánh cổng. Cô gái tóc dài, đôi mắt to đen láy trên khuôn mặt đẹp! Trong một thoáng, Hãng nghĩ, suốt tháng nay lẽ ra anh nên mơ mộng về Trắng Cát nâu giòn này.
- Các anh tìm ai? - cô gái với chất giọng Quảng Trị hơi pha - Có phải... hai anh là sinh viên đến trọ học?
Còn bàng hoàng sau cảm giác hụt hẫng, hụt hẫng về một Tre Trúc trắng mịn đã thoáng gặp ngoài hẻm, lại sượng vì tự thấy ý tưởng vừa rồi thật đáng xấu hổ, nhưng anh kịp ứng biến:
- Tôi muốn gặp cô sinh viên có mái tóc dài mới đến trọ tại đây - Hãng đùa - da nâu, đôi mắt to nữa...
Cô gái hơi giật mình, ngơ ngác, luống cuống kéo then. ''Kịch bản'' của Hãng xem như hỏng song anh không lúng túng trước tình huống quá khác với dự đoán. Đã bảo đừng vẽ vời trước làm gì! - Hãng thoáng nghĩ. Cổng mở. Cô gái xuất hiện. Ít ra cô gái cao bằng hoặc nhỉnh hơn Hãng một, hai phân. Hãng mất tự tin ngay với tâm lí của phái mạnh và cũng của người suốt tháng trời nay mộng tưởng. Nếu cô gái trước mặt không hớp hồn Hãng tức khắc, chiều cao của cô có nghĩa gì với anh, cho dẫu cao hơn anh cả một cái đầu theo nghĩa đen. Cũng trong một thoáng chỉ vài giây, Hãng nhận ra anh quá tiếc, Tre Trúc không phải là cô gái này!
Chợt cô gái gọi, với nét mặt rạng rỡ, khi có tiếng xe đạp thắng nhẹ sau hai chiếc xe gắn máy của Hãng và của anh Mai Tự:
- Chị Tre Trúc!
Hãng ngạc nhiên, cùng anh Mai Tự quay mặt lại. Hãng mở to mắt rồi giữ được vẻ bình thản, tuy đã rối lòng thật sự. Cũng một cô gái da nâu tươi tắn, xinh đẹp, nhưng nụ cười lại có thêm chiếc răng khểnh, má lúm đồng tiền! Tre Trúc đây sao? Hãng sững sờ. Tre Trúc thật là cô gái mới vừa đến đây sao?
Bốn người chào nhau. Quên bẵng câu nói đùa hồi nãy của Hãng, bước vào sân, cô gái vừa rồi mở cổng hơi ngỡ ngàng khi thấy hai người dắt xe máy quá tự nhiên như người nhà của biệt thự này. Thật ra, lúc này Hãng quá bàng hoàng, bối rối, hơi thiếu tự tin thêm một mức. Anh Cơ Dân, ông Hương Chữ đứng trên hành lang trước phòng khách với hai nụ cười niềm nở và cơ chừng đang dò đoán tình cảm Hãng.
Bước song song với Tre Trúc, xách giùm cô chiếc va li nhỏ, Hãng cũng kịp nhận ra Tre Trúc vẫn cao hơn anh khoảng một, hai phân, cũng tóc dài, và có phần xinh đẹp với nét duyên mặn mà hơn cả cô gái mở cổng (lúc này đã biết chắc cô ấy là Song Mây). Khi ngồi quán, khi đứng ở cổng, Hãng lầm to, đến hai lần lầm!
- Sao Tre Trúc lại không đến cùng một lúc với hai em? Song Mây bảo, chị Tre Trúc còn phải đợi bà chủ nhà trọ cũ về, để trao chìa khóa lại đã, đúng không? - anh Cơ Dân nói thay lời chào đáp và đón tiếp.
Ông Hương Chữ, anh Cơ Dân đã bố trí phòng ở cho mười sinh viên trọ học. Tất cả đều ở tầng dưới. Tầng trên, chỉ hai ông bà cụ chủ nhà ở, phía sau gian phòng rộng rinh làm nơi đặt bàn thờ theo Đạo Hiếu Nghĩa tự nghìn xưa.
Chị em Tre Trúc, Song Mây được sắp xếp ở chung với Trần Thương Trắng Cát, ngay tại phòng có cửa sổ bốn lá mở ra bể nước với hai cụm tượng xương rồng.
Phòng khách được thay vào một chiếc bàn dài đến ba mét thường dùng để dọn tiệc cùng mười sáu chiếc ghế. Tất cả đều bằng gỗ đen bóng, như lan can cầu thang lên lầu với các nét chạm tinh tế cạnh đó, ngay trong phòng khách.
Khi đặt va li vào phòng cho Tre Trúc, Hãng bặt thiệp làm quen ngay mặc dù trong lòng đã hơi buồn, và tự thấy mình không nên trao gửi tình yêu không đúng chỗ.
- Tôi là Phùng Hãng. Còn đây chắc chắn là Song Mây, phải không? Tre Trúc, tôi cũng đã biết tên từ ngoài cổng - Hãng nhìn qua cô gái có làn da trắng đang ửng hồng - Anh Cơ Dân mới gọi là Trắng Cát... Tôi biết tên cả rồi đấy nhé - Hãng cười.
- Cái tên của anh gợi nên một xí nghiệp cỡ lớn, một công ty cỡ ''đại gia'' - Song Mây cười khúc khích hồn nhiên.
Trắng Cát cũng che miệng cười. Riêng Tre Trúc chỉ mỉm môi, ý tứ lay nhẹ tay áo em để nhắc em đừng suồng sã quá đáng.
Hãng đỏ mặt, vẫn phớt tỉnh đùa tếu cái tên của mình:
- Hãng là hãn cộng với g, toát mồ hôi và có cái đuôi kinh tế. Lũ bạn tra tứử điển ''Cười'', trêu tôi vậy.
Anh Cơ Dân bước vào:
- Tốt quá, quen hồi nào mà nhanh vậy? Tôi giới thiệu thêm nhé. Song Mây học khoa kinh tế, cùng khoa với Trắng Cát. Tre Trúc thuộc khoa ngữ văn Việt. Còn Phùng Hãng sắp sửa là kiến trúc sư đấy - anh Cơ Dân kín đáo nháy mắt với Tre Trúc khiến cô cúi đầu giấu nụ cười mỉm - Thôi, ra gặp mặt chung một chút đi - rồi anh nói bâng quơ - Được đấy chứ?
Trong lúc ông Hương Chữ, anh Cơ Dân họp mặt cùng mười sinh viên ở trọ, Hãng và anh Mai Tự thấy nên bước ra sân, đến ngồi ở ghế đá dựa lưng vào vách thành trước, dưới bóng râm của giàn hoa leo nở hoa màu tím ngan ngát.
Cái cúi đầu, nụ cười mỉm thẹn thùa của Tre Trúc bỗng làm niềm tự tin trong Hãng đầy lại. Hãng mỉm cười thích thú với một chút băn khoăn còn sót đâu đó trong tim anh. Anh thấy rõ mình vừa xao xuyến, vừa buồn cười và hơi ngài ngại. Lâu nay, trong giao tiếp, Hãng đâu chú ý đến chiều cao vì anh cũng không phải thấp: một mét sáu mươi chẵn. Nhưng hai chữ xứng đôi bây giờ như hai khúc dây thép quăn queo đâm nhói vào lòng anh. Rõ là anh cần phải cao hơn hoặc tối thiểu phải cao bằng Tre Trúc. Hãng lại đỏ mặt với ý nghĩ của mình.
Nói chuyện với anh Mai Tự, Hãng không một lời nhắc đến cô gái đã làm anh rung động. Còn sớm để quên cô ấy trước khi đã muộn.
Những tia nước lóng lánh vẫn phun, xòe tròn như một cây cau xòe lá ra tứ phía từ chậu kiểng, lá cành và chậu đều bằng thủy tinh trắng trong vắt, long lanh nắng. Hãng nhìn đăm đăm, nghe lòng trở lại bình thản.
Anh Mai Tự tinh ý, nhưng chờ mãi không thấy Hãng bày tỏ cảm nghĩ về Tre Trúc, anh gợi mở:
- Tre Trúc xinh đẹp quá, lại có duyên nữa chứ - và anh không ngờ mặc cảm mới chớm lên ở Hãng - Hãng ''gạ gẫm'' được Tre Trúc thì quá đẹp đôi - anh tếu để thăm dò Hãng.
Hai chữ xứng đôi như hai con sâu đo bò nhột nhạt trong ngực Hãng. Uẵa, sao một con có bốn khúc, một con chỉ ba khúc!
- Yêu thế khổ lắm anh à - Hãng bỗng buồn cười, giễu mình với chút cường điệu - Cô ấy cao quá, ''dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng'' không được đâu. Với Hãng này, còn chán khối cô gái xinh đẹp - Hãng bật cười - Bây giờ em mới hiểu vì sao trên khung báo tìm bạn của những người cô đơn, người ta lại chú ý đến chiều cao cơ thể đến vậy. Cũng đúng chứ! - ý tưởng ấy làm tiếng cười anh mỗi lúc mỗi vang giòn nhưng vẫn gượng gạo.
Anh Mai Tự ngạc nhiên thật sự:
- Ồ, Hãng quên đôi giày cao gót to cồ dưới chân Tre Trúc sao! ''Mốt'' mới mà! Hãng có tâm lí phái mạnh hơi quá ngưỡng rồi! Hãng chỉ thấp hơn cô ấy về tâm lí thôi.
- Đàn ông, con trai phải chấp đàn bà, con gái cả guốc, giày cao gót chứ! Thôi, băn khoăn làm chi cho mệt. Bàn chuyện này là sa vào phạm trù thẩm mỹ cái thô kệch rồi ! Không thơ mộng, trữ tình chút nào cả! - Hãng lại cười, mặc dù không vui.
Hãng chợt nhận ra ở Tre Trúc có chút gì đó vốn rất hài hòa đã bị thời trang làm lệch đi. Đôi giày cao kều ấy chỉ khiến thẩm thức của cô thấp đi dăm phân tương ứng! Hãng lại giễu chính anh, đó là ý tưởng của người có chiều cao một mét sáu mươi phân chăng? Hãng muốn bật cười với chuyện vặt và rởm này.
Anh Mai Tự lại hình dung ra một đôi bạn yêu nhau, Hãng và Tre Trúc, rất dễ thương, đẹp đôi. Anh mỉm cười hồn hậu trong mộng tưởng giùm họ. Bất giác anh thở dài xua đi những khó chịu về người vợ luôn mồm thét lác của anh.
Hãng bỗng lặng lẽ, buồn bã. Ngồi im một lúc, nhìn nắng trải vàng rực trên hai lối sỏi trắng dẫn từ tòa nhà lớn và từ nhà anh Cơ Dân đến bể nước, cảm thấy trĩu nặng nỗi bồn chồn trong lòng, chắc hẳn đó là nỗi bồn chồn khó chịu của niềm chán nản, Hãng muốn về nhà hay đi đâu đó một mình. Nhưng rồi Hãng vẫn quay cái nhìn từ nhà anh Cơ Dân vào phòng khách biệt thự. Anh bắt gặp cái nhìn của Tre Trúc trong một thoáng. Cô lại hướng mặt về phía đầu bàn, lắng nghe anh Cơ Dân đang dặn dò gì đó. Ánh mắt của Tre Trúc ở quá xa, Hãng không thể hiểu được. Anh cho rằng đó là ánh mắt của sự thờ ơ, dửng dưng. Hãng thở dài nhè nhẹ. Lại nhìn những khung cửa đã đóng kín ở nhà anh Cơ Dân, Hãng biết hai đứa nhỏ, Y Cao và Cơ Nguyên, đã theo mẹ ra hiệu may ngoài phố. Hãng thấy cần phải nói vu vơ một câu gì đó để không nghĩ đến nỗi buồn nặng nề của sáng chủ nhật này, ngỡ thất vọng về Tre Trúc, hóa ra lại tự thất vọng!
- Chị Bến Mai sáng nay có đi dạy thêm không, anh Mai Tự? - Hãng hỏi nhưng đang dẫn mạch nghĩ trốn khỏi nỗi bi hài.
Anh Mai Tự lắc đầu:
- Lâu nay cô ấy than mệt, cứ phải đi đến các phòng khám hoài. Có điều sáng nay thì ở nhà với thằng nhỏ - anh lại buông ra một câu nói dạo này thường chực sẵn trên môi anh - ọể làm gì nhỉ! Hoang tưởng bị bệnh chắc?!
Hãng hơi ngạc nhiên, nhưng anh biết bốn chữ ''để làm gì nhỉ!'' của anh Mai Tự không có nghĩa gì cả, chỉ là câu nói quen miệng thế thôi, và cũng chỉ trong vài năm gần đây.
Riêng Hãng, sáng nay anh chợt thấm hiểu, nỗi đau có thật về ngoại hình của con người là muôn thuở. Loài người không muốn là sản phẩm đồng loạt giống hệt nhau, tiêu chí thẩm mĩ cũng phải khác nhau, ở từng người, tùy từng thời, từng xứ, và bi kịch lẫn hài kịch cũng diễn ra từ đó? Hãng cũng nhận ra anh còn quá cảm tính. Có phải còn cảm tính không nhỉ? - Hãng tự hỏi. Và cũng tự hỏi, sao đôi khi, anh tự chế giễu mình một cách ác độc đến vậy?!



7



Với mười sinh viên đến trọ học, cứ ngỡ biệt thự Sen Trắng sẽ ồn ào và rối lên, nhưng rồi chính không khí yên tĩnh vốn có, với không gian xưa nay vẫn lặng lẽ tỏa hương sen của tứ thơ được thể hiện bằng kiến trúc, biệt thự này chỉ trẻ trung hơn. Nền nếp sinh hoạt, học tập của mười sinh viên đồng hương đã tạm ổn định. Anh Mai Tự nhạy cảm hiểu ra bằng chính kinh nghiệm của mình, lòng tốt của ông Hương Chữ cũng là một thứ hương quê, giúp cho các ''đấng'' sinh viên dẫu cho tinh quái, hiếu động thế nào chưa rõ, cũng phải biết điều. Họ đều là sinh viên, chứ có phải đùa đâu!
Đã một tháng trôi qua, nhưng chỉ một tuần nay, thầy giáo Mai Tự đã bốn lần đến dạy kèm thêm cho hai sinh viên Việt kiều. Phạm Nữ Hoài Hương và Bùi Văn Hoàng đang học lớp tiếng Việt cho người nước ngoài, trước khi chính thức vào năm thứ nhất của bậc đại học. Song Mây học khoa kinh tế song rất mê điện ảnh. Cô rất vui khi biết bà Lụa Hà mấy mươi năm nay là diễn viên, đã thấy bà nhiều lần trên truyền hình, trên màn ảnh. Song Mây rất thích trò chuyện với bà, nhưng vẫn thích nhất là lúc ngồi bình phim, bình truyện với anh Mai Tự. Từ khi anh Mai Tự nhận dạy kèm cho Hoài Hương và Hoàng, cô hồn nhiên bày tỏ niềm thích thú được dịp gặp gỡ anh Mai Tự nhiều hơn. Anh Mai Tự cũng xao xuyến xen lẫn cả thích thú được chuyện trò với một cô sinh viên tự tin đến thế, mặc dù anh vẫn có trực cảm Song Mây hơi xốc nổi, bồng bột, hơi thiếu kìm chế những cảm xúc trong tâm hồn mình. Đã nhiều lần, ở nhà riêng, thầy giáo hai mươi bảy tuổi này bắt gặp lòng mình bâng khuâng. Những lúc đó, anh phải chụp lấy cuốn sách hoặc tờ báo để dúi mặt vào những con chữ. Anh Mai Tự đọc và đọc, để giữ được sự thanh thản, trong sáng của tâm hồn, tất nhiên đọc những bài anh cho là ''sạch sẽ''.
Đêm nay, sau hơn một tiếng rưỡi đồng hồ giảng giải thêm cho Hoài Hương và Hoàng về từ loại, kết cấu chủ - vị tiếng Việt với các khái niệm tương tự trong ngữ pháp tiếng Anh, anh Mai Tự cùng hai người Mỹ có huyết thống rất thuần Việt này với cả Song Mây nữa, ra ngồi ở các ghế tròn như những cái đôn quanh chiếc bàn tròn, tất cả đều bằng xi măng tô đá mài. Bộ bàn ghế này ông Hương Chữ mới mua từ cửa hiệu nào đó về, hơn nửa tháng nay.
Vừa ngồi xuống ghế, Hoài Hương vỗ tay lên bàn, hát một khúc nhạc rốc (rock), bất chợt rụt tay lại, im bặt, ngượng ngùng, nhìn anh Mai Tự đang mỉm cười. Hoài Hương sực nhớ đến phong thái Phương Đông, kín đáo và đằm thắm.
- Không sao! Cứ hát. Hoài Hương hát nghe vui lắm - anh Mai Tự tỏ ra thông cảm với chất Mỹ ở cô.
Hoài Hương nhoẻn miệng cười. Mái tóc cắt kiểu con trai rất ngắn, thả cái đuôi nòng nọc chừa lại giữa gáy, trông rất ngổ ngáo. Với kính cận gọng tròn lấp lánh trên sống mũi nhỏ, áo thun cổ tròn in các dòng chữ tiếng Anh trên ngực và sau lưng, rộng thùng thình, luôn luôn với quần cộc, phơi cặp giò dài, Hoài Hương còn nói tiếng Việt pha âm sắc Mỹ, có nhiều chữ lơ lớ, giọng mũi. Nếu Hoài Hương to con hơn, Hoàng nhỏ con hơn so với vóc dáng thật của họ, thoáng nhìn, không biết được trong hai người có một người là con gái. Lúc này, Hoài Hương còn dè dặt vì nghe ba mẹ trước khi cho cô về nước học đã căn dặn. Hình như trong đầu Hoài Hương đang đọng sâu các ý niệm với cái nhìn cách đây vài thập niên về phong thái châu Á và bản sắc Việt Nam. Không. Có lẽ đúng hơn, đó là cái nhìn riêng của ba mẹ cô, chỉ thiên về nội dung!
Song Mây lại tiếp tục hát nho nhỏ khúc hát Hoài Hương vừa bỏ dở! Hoàng nhìn cô, cười cả bằng mắt.
Anh Mai Tự muốn tỏ ra cởi mở:
- Hai bạn về nước, đã đến các nơi có khiêu vũ chưa? Mấy năm gần đây, lại rầm rộ mọc lên các vũ trường, cũng rốc, ráp (rock, rap) ra trò - anh Mai Tự nói, muốn hai bạn trẻ này hiểu anh không khắc khổ lắm, nhưng rồi chợt ngượng vì trót nói khác với quan niệm tự do, cởi mở của mình.
- Dạ, mới vài lần. Việt Nam cũng vui, anh hở? - Hoàng đáp - Người Việt mình ở Mỹ nghĩ sai về sinh hoạt trong nước nhiều lắm.
- Người ở trong nước cũng không ngờ sự thay đổi lại nhanh chóng đến thế - đặt ngón cái trên mặt bàn, anh Mai Tự xoay nửa vòng tròn bằng ngón trỏ, cánh tay với bàn tay tạo thành một dấu hỏi ngược rất bất giác - ọúng là xoay một trăm tám mươi độ - anh Mai Tự lặp lại câu cuối hai lần, cố nói thật chậm, rồi buột miệng - Để làm gì nhỉ!
Song Mây cười khúc khích bởi câu nói cửa miệng của riêng anh Mai Tự. Hoàng và Hoài Hương cười theo, mặc dù không hiểu hết. Cả hai người Mỹ gốc Việt này dẫu sao vẫn còn hơi ngơ ngác, vẻ ngơ ngác của những ai rơi vào môi trường văn hóa và ngôn ngữ khác với nơi họ sinh trưởng. Anh Mai Tự hiểu sự ngơ ngác này. Anh chả nói với họ ở giờ dạy kèm đầu tiên là gì, ngôn ngữ không chỉ để hiểu, vì hiểu cũng không đủ, phải cảm cả lượng thông tin ngoài nghĩa thực, nghĩa tường minh của câu chữ bằng văn hóa bản địa - văn hóa ở dạng cụ thể mà mơ hồ nhất, mơ hồ đến mức rất khó mô tả thành lời.
Những dè dặt của Hoài Hương, của Hoàng hình như tan biến. Họ thấy cần thoải mái với nếp sống vốn có. Ai cũng thế, sống giữ kẽ, tập thích nghi quả là hơi nặng nề. Rất vô thức, Hoàng và Hoài Hương muốn cả thế giới đều là một cả cho xong, cả thế giới đều Mỹ hóa như họ đã hóa Mỹ (!).Yằ tưởng này loáng thoáng đâu đó trong ý thức họ nhiều lần. Hoài Hương hơi chột dạ, chợt hiểu sâu sắc các dòng chữ nhỏ xem ra rất vớ vẩn dưới hai chữ lớn: One World (một thế giới), trên áo Hoàng và trên áo cô.
Anh Mai Tự nhếch môi, cười mũi rất nhẹ. Anh hỏi hai người bạn Mỹ, thuần Việt về huyết thống, nơi định cư của họ:
- Hai bạn đều ở Ca-li (California) cả sao?
- Vâng - Hoàng đáp - nhưng ở tại một khu ít người Việt.
- Hình như, đã quen nhau từ bên ấy? - anh Mai Tự cười cho nhẹ những câu hỏi.
- Vâng - Hoàng nhìn Hoài Hương - Học cùng lớp, chỉ khác khi đã vào đại học.
- Tôi biết Hoàng là kĩ sư điện tử, còn Hoài Hương đã xong cử nhân thương mại. Các bạn chắc có ý định sẽ làm cho một công ti Mỹ ở Việt Nam trong vài năm tới?
- Không biết có thuận lợi không? - Hoài Hương trả lời bằng một câu hỏi - Một số người đoán trước, sẽ qua Việt Nam để kinh doanh. Riêng bọn em, chỉ vì thích học tiếng Việt...
Song Mây nhạy cảm hiểu ra chuyện, cô cúi mặt, im lặng. Anh Mai Tự cười với nụ cười khô, đôi môi như vô cảm.
- Ờ, cũng tốt - anh Mai Tự buông ra hai chữ cộc lốc sau tiếng ''ờ'' kéo dài.
Chỉ mỗi Song Mây hiểu anh nói vậy nhưng không phải vậy.
Nói chuyện vu vơ thêm một chốc, anh Mai Tự bảo:
- Ba bạn ngồi chơi nhé. Mình vào chào anh Cơ Dân rồi phải về nhà thôi. Ngày mai còn phải lên lớp.
Bất giác anh Mai Tự cắn vào môi trên, suy tư, bước trên lối sỏi trắng. Tiếng sỏi lạo xạo nghiến vào nhau dưới đế giày anh. Cũng bất giác, anh dừng lại, thầm bảo: Để làm gì nhỉ!
Anh Cơ Dân đang gõ nhịp bằng ngón tay trên mặt bàn, môi huýt sáo khe khẽ một trường canh nhạc mới viết. Anh Mai Tự đứng ở sân nhìn vào, biết bạn đang chú tâm, say sưa xướng âm, anh quay gót, ra chỗ để xe. Tre Trúc đang viết gì đó cạnh Trắng Cát sau cửa sổ, đứng dậy chào đáp bàn tay anh Mai Tự đưa lên khi thấy cô chợt nhìn ra.
Song Mây ra mở cổng để anh Mai Tự dắt chiếc xe bảy tám ra đường hẻm. Niềm cảm động xua mất nỗi hư vô trong anh.
Nụ cười của hai người lúc này đều làm xao xuyến lòng nhau. Anh Mai Tự bắt gặp ánh mắt long lanh, quyến luyến của cô gái vừa bước vào ngưỡng cửa đại học. Anh run lên. Bất giác, sau một cánh cổng còn khép lại, bên vệ đường hẻm đã vắng, ngồi trên yên xe gắn máy, anh không hiểu vì sao anh chìa tay ra cho bàn tay với những ngón thon tròn, mềm mại của Song Mây đặt vào. Anh cũng không hiểu sao anh lại giữ bàn tay cô gái mới mười chín tuổi khá lâu trong tay mình đến thế. Song Mây bối rối, cô thấy rõ ràng là cô có rụt tay về nhưng cũng chả hiểu sao lại xúc động đến sững sờ, để yên trong tay anh Mai Tự! Song Maậy rơm rớm nước mắt. Anh nghe máu dồn lên đầu, ngây ngất như đang cơn choáng váng. Cả hai đều hiểu đây không phải là cái bắt tay giao tiếp bình thường.
- Anh về nhé - Anh Mai Tự chợt nhận ra trái tim anh đã thật sự sống lại.
- Dạ. Mai mốt gặp lại nghe anh Mai Tự... - Song Mây hơi ấp úng.
Anh Mai Tự gật đầu trong niềm vui rộn rã mãnh liệt, quả thật lần đầu anh nếm trải. Anh khởi động xe gắn máy, ngoái lại với cái nhìn quyến luyến, rồi lên nhẹ tay ga.
Đến đầu hẻm, anh dừng xe lại, ngoảnh nhìn cánh cổng Sen Trắng. Anh vừa sung sướng đến ngẩn ngơ, vừa hối hận vì chợt nhận ra mình là một thầy giáo tồi tệ. Anh tỉnh táo lại khi thấy trước cổng Sen Trắng không còn bóng dáng Song Mây - cô gái đa cảm, lãng mạn như biển, sóng cứ mãi khát khao tràn bờ. Anh bổi hổi chạy xe rất chậm về nhà. Anh tự bảo, anh có lỗi gì đâu, chẳng một ai, cả lương tâm anh, kể cả đạo lí lẫn kỉ luật sư phạm có thể kết án được anh, ngoài một tội duy nhất, ấy là tội anh đã trót có vợ con! Song Mây đâu còn là học sinh trung học! Anh bàng hoàng sống lại trái tim đang tuổi hai mươi chưa được sống bao giờ với ý nghĩa chân thật nhất.
Anh đâu biết Song Mây đã vội đóng cửa, đi nhanh vào nhà, bước nhanh trên lối đi giữa hai dãy phòng, bước xuống bậc cấp cửa sau, đứng úp mặt vào hai cánh tay như bấu chặt vào bức tường cuối biệt thự, khóc lặng lẽ dưới ánh đèn từ dưới bao lơn tỏa xuống. Mái tóc dài đen mượt của Song Mây run nhẹ trong niềm cảm xúc đến mức phải nghẹn ngào, bàng hoàng khóc. Cô cũng không thể hiểu nổi, không cách nào cưỡng được trái tim chứa đựng cả mênh mông biển rộng của cô, với những ngọn sóng dạt dào khát vọng mãnh liệt - khát vọng tràn bờ, khát vọng của những giọt nước mắt mặn mòi muốn được tràn vào mênh mông đại lục của yêu đương. Song Mây tin vào mầu nhiệm của tình yêu đương. ọất liền không chết, biển không khô. Biển có tên là Song Mây sẽ hóa ngọt, xanh biếc một dòng sông thơm ngát giữa dải đất liền có tên là Mai Tự. Như một truyện phim Song Mây đang ấp ủ, tình yêu đương chân thật không có tội lỗi gì cả, bởi tình yêu đương ấy chân thật. Đơn giản là vậy. Anh Mai Tự ơi, chúng ta không có tội gì cả, nếu anh với em chân thật yêu nhau. Yêu đương chân thật chắc chắn là yêu đương duy nhất - Song Mây lặng lẽ khóc trong nỗi day dứt xen lẫn với niềm say ngất hồn nhiên, thầm tự bảo với mình - Không hối hận, ăn năn và không hối tiếc.
Ánh đèn vẫn nhẹ tỏa ánh sáng trên mái tóc dài mười chín tuổi của cô sinh viên năm thứ nhất - kiểu tóc một thời nào, cũng gần đây thôi, là biểu tượng của lời thề thủy chung, duy nhất. Song Mây chợt ngừng khóc khi nhớ một định nghĩa về tình yêu đương trong tiểu thuyết ''Chuyện tình'' của I-ríc-k Sơ-gân (Erick Segal): ''Yêu là không bao giờ phải nói rằng em rất hối tiếc''. Câu thoại ấy đã vang lên trên màn hình nhỏ một buổi tối nào trên cao nguyên, nơi đã trở thành nguyên quán của trái tim cô. Song Mây chớp mắt, và chợt xấu hổ nhớ lại thời trung học...



8



Hãng chỉ đến thăm biệt thự Sen Trắng một, hai lần trong thời gian qua, từ khi gặp Tre Trúc lần đầu tiên vào buổi sáng của ngày nghỉ cuối tuần, người ta quen gọi là chủ nhật đó. Anh chỉ đến thăm gia đình anh Cơ Dân và ông bà Hương Chữ. Anh Mai Tự tế nhị, không nói nỗi mặc cảm rất con trai, đầy nam tính của Hãng với một ai. Nếu sáng đó Hãng không tự giễu, cũng không một ai biết. Làm sao người ta có thể ngờ được Hãng mặc cảm vì so chiều cao thật, trừ độ cao của guốc, của giày, Tre Trúc còn thấp hơn Hãng đến ba phân! Hãng, một mét sáu mươi chẵn. Tre Trúc, một mét năm mươi bảy lẻ. Nhưng đấy là mặc cảm có thật trong tim Hãng, từ buổi sáng chủ nhật ấy. Đúng hơn, cũng không phải mặc cảm, chỉ thấy không xứng đôi và đẹp đôi. Nét tâm lí này chỉ một mình Hãng có trên đời này, có lẽ vậy. Tình yêu đương đích thực, tình yêu đương ấy sẽ san bằng tất cả mọi cao, thấp theo mắt nhìn thiên hạ bằng sức mạnh nhiệm mầu của nó, nữa là!
Một hôm, anh Mai Tự nói riêng với Hãng bằng tất cả chân thành:
- Hãng chưa biết yêu đương là gì đâu nhé - anh Mai Tự cười với nụ cười khiến Hãng không cảm thấy bị xúc phạm - Hãng yêu Hãng nhiều quá. Hãng dám cãi ca dao sao? ''Dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng'' mà, kể cả chiều cao, chiều sâu trí tuệ và địa vị xã hội. Ồ, mình cũng chả dám nghĩ rằng chồng thấp vợ cao là thuộc phạm trù thẩm mỹ cái hài... ọó là cái hài phi nhân bản, nên nó không thể thuộc phạm trù thẩm mỹ. Thẩm mỹ, trước hết và cuối cùng là nhân bản. Có những độ lệch làm cảm động, làm thăng hoa lòng người, đó là độ lệch của cái đẹp... Ồ, mình không ngờ Hãng cao ngạo với phụ nữ đến thế, yêu bản thân đến vậy. Hãng có máu làm hoàng đế đấy. Hãy xem chừng - anh Mai Tự bật cười, Hãng cũng cười - Lạ một điều, Tre Trúc xinh đẹp, duyên mặn mà đến thế, cũng không giúp hãng bớt yêu bản thân Hãng... Vả lại, cô ấy thấp hơn Hãng đến ba phân hẳn hoi. Hãng biết rõ điều ấy mà!
Hãng gật đầu, mỉm cười. Hãng vớt vát:
- Em không rõ em có quá nhiều chất đàn ông không!
- Chất trịch thượng! - anh Mai Tự ném mạnh ra ba chữ, như thể ba chữ ấy từ trong lòng tay anh đang vỗ xuống bàn.
Thật sự, Hãng hiểu chính mình. Anh Mai Tự không hiểu Tre Trúc đã hớp hồn Hãng, biến Hãng thành kẻ ngẩn ngơ như thế nào. Nếu anh có bệnh nam tính kẻ cả, muốn mọi cô gái đều phải quỳ mọp hay lùn tịt dưới chân mình, thì cũng đã khỏi rồi, bởi anh yêu Tre Trúc thật lòng. Nếu anh có bệnh căm ghét cái thô kệch, nếu đó là bệnh, thì cũng khỏi rồi, vì cô ấy và cả Song Mây đều ném hai đôi giày to cồ vào sọt rác - hai đôi giày vốn là quà tặng của bạn bè, khiến dáng đi uyển chuyển, nhẹ nhàng thành lóng ngóng, cứng cỏi, nặng nề.
Thật sự, dẫu sao đi nữa, Hãng lập luận, phân tích cách nào, anh vẫn thấy trước tình yêu đương nếu thành giữa anh với Tre Trúc vẫn là một tình yêu sẽ khiến anh vừa đau đớn vừa say đắm, vừa dằn vặt vừa thăng hoa, vừa buồn tủi vừa hạnh phúc. Cơ hồ là tình yêu của nghệ sĩ với cái đẹp của nghệ thuật. Không bao giờ thỏa mãn khát vọng. Không bao giờ có thể chiếm lĩnh ở mức tuyệt đối. Cũng có thể Hãng đang tự huyễn bằng những khái niệm. Nhưng Tre Trúc, cô sinh viên năm thứ tư khoa ngữ văn Việt ấy, đâu phải là khái niệm! Cũng có thể không phải vậy. Hãng rung cảm trước Tre Trúc bằng những rung cảm rất thật, đâu phải trước một bức tượng với sự chiêm ngưỡng nghệ thuật. Hãng vốn thầm tự hào với bao lời khen, về ngoại hình của chính anh, từ trong ánh mắt của bao bạn gái, kể cả sự cảm phục về năng lực, phẩm cách Hãng. Có thể chăng, Tre Trúc có một ma lực hay thánh lực nào đó Hãng hoàn toàn không hoặc chưa hiểu nổi, song Hãng đã thấy rõ niềm tự tin, tự hào của anh trước Tre Trúc, chỉ trước Tre Trúc thôi, đã trở nên vô nghĩa!
Hai tháng rồi, Hãng ít đến biệt thự Sen Trắng. Hồi Tre Trúc chưa đến trọ ở đấy, mỗi tuần có khi đến năm lần Hãng ghé chơi, mặc dù chỉ để nói chuyện phiếm trong chốc lát. Dạo này, đã ít đến, Hãng còn ngần ngại khi nghe Lúa Ngọc bảo, ông Hương Chữ muốn nhờ Hãng gì đó về kiến trúc! Nhưng nỗi nhớ về Tre Trúc trong tâm hồn Hãng cứ như nỗi đau của khát vọng không nguôi. Có khi, anh tự rủa mình là rởm! Nhiều lần, anh tự hỏi một cách khá ngây ngô: Có thật ở Tre Trúc, và cả ở Song Mây nữa, đã toát ra ma lực hay thánh lực? Có ma lực, thánh lực thật không? Chẳng lẽ cái đẹp thường gây nên sự cuốn hút và nỗi đau? Hãng cũng tự nhủ, là con trai, dằn vặt về ngoại hình, thật quá tầm thường!



9



Buổi sáng, các sinh viên đã đến trường, Y Cao và Cơ Nguyên đến lớp, chị Y Sông cũng tới hiệu may. Mặc dù ở trên tầng lầu, ông Hương Chữ vẫn cảm nhận cảnh vắng hoe của tòa nhà rộng lớn. Ông biết, chỉ còn Cơ Dân sáng này ở nhà một mình, vì nếu đi đâu, đến phòng thu âm hay tập hát cho một ca sĩ nào đó, anh đã lên nhờ ông hoặc bà Lụa Hà đóng cổng hộ. Bà Lụa Hà cũng chưa đến giờ đi chợ, cái chợ mới xây dựng rất gần nhà. Mênh mông là thế, biệt thự này giờ chỉ còn vỏn vẹn có ba người!
Thức giấc từ sớm tinh mơ, tập chung với bà bài dưỡng sinh ngoài bao lơn, vào phòng khách bên cạnh gian thờ nhấm nháp cà phê, đọc tờ báo Tre Trúc thường lấy từ hộp thư và báo gắn bên trong cánh cổng - người đưa báo đã đút vào khe mỗi sớm - để mang lên cho ông, và cũng đã điểm tâm xong, ông Hương Chữ cảm thấy cần gặp anh Cơ Dân để chuyện trò một chốc, bàn về việc nhờ Hãng xem lại cái sân, bể nước. Ông nhìn bà Lụa Hà đang mang kính lão đọc chuyên san điện ảnh. Mỉm cười, nhấc ống nói điện thoại, ông bấm số nội bộ, ngón tay chấm vào hai phím, vội đặt ống nói vào vị trí cũ. Chuông reo, bà Lụa Hà nhướng mắt nhìn ông, lại cúi xuống đọc. Ông vội nhắc ống nói lần nữa. Ông bảo anh Cơ Dân lên lầu cho ông gặp.
Nghe tiếng chân ở cầu thang, ông quay lại, mỉm cười. Anh Cơ Dân chào ba má nuôi rồi ngồi xuống. Ông Hương Chữ hỏi:
- Sao? Hãng chưa đến à? Gọi điện thoại hoài vẫn không gặp được nó. Dạo này chắc nó bận việc gì - ông nói.
Bà Lụa Hà tháo kính, cười:
- Cái thằng dại quá! Ngốc ơi là ngốc! Tre Trúc thế mà không biết ''tranh thủ''!
- Ngốc thật! - ông Hương Chữ cười lớn.
- Lẽ ra chính ông phải ''mách nước'' cho nó!
Ông Hương Chữ lại cười lớn hơn, nhớ thời trẻ của ông với bà ở Hà Nội, trước Cách mạng Tháng tám, mối tình đầu trong sáng không bao giờ quên được. Ông chớp chớp mắt, nói lảng:
- Này, anh Cơ Dân, năm ngoái Hãng bảo nên chữa lại cái sân, đặt thêm cái tượng đúc hoa sen gì đó ở bể nước, ba quên bẵng đi mất vì thấy cũng không cần thiết. Nay lại sực nhớ, thấy chẳng tốn kém bao nhiêu mà cũng hay đấy.
- Theo như Hãng nói, cũng khá đẹp và có ý nghĩa. Con đã nhờ Lúa Ngọc nhắn nó rồi.
Anh Cơ Dân ngồi thêm một chốc, thấy chẳng có chuyện gì ngoài sự gặp mặt cho vui. Những điều anh nghe, thật ra ông cũng có thể nói qua điện thoại. Anh càng thấm thía nỗi quạnh hiu của ông bà Hương Chữ. Nhưng cũng chẳng biết chuyện trò thêm điều gì, anh xin phép được xuống nhà, sau khi nhận thấy, trong bộ quần áo thể thao màu trắng bà mua về diện cho ông, nom ông có phần trẻ trung hơn, và dáng người bệ vệ, thấp đậm, nước da nâu sẫm vẫn tươi tắn với tiếng cười rất vang một cách hồn hậu. Anh đã yên tâm, định đứng dậy.
Ông Hương Chữ gật đầu, có vẻ không bằng lòng về sự vội vã của anh. Ông bảo anh nhớ nhắn Hãng một lần nữa, rồi đưa tay lên chào. Ông bỗng dưng cảm thấy buồn buồn, hụt hẫng.
Khi bà Lụa Hà đã đi chợ, ông Hương Chữ ngả đầu vào lưng ghế xa lông có bọc nệm mút, bâng khuâng với hồi tưởng. Ông nhớ phố Khâm Thiên ở Hà Nội, nhớ ngôi nhà nhỏ của gia đình ông trước đây đã bị bom dội nát. Ông nhớ người vợ cũ và ba đứa con, hai trai, một gái, đã chết tức tưởi dưới gạch đá đổ sập. Lẽ ra, ông đã có dăm đứa cháu nội, đến năm nay chúng cũng mười lăm, mười bảy tuổi. Ông thở dài. Ông cau mặt như đang chịu đựng một nỗi đau thân xác. Nỗi đau buồn, thương nhớ quả là có móng vuốt độc ác của nó. Đầu óc ông chợt trống vắng như đang có cả một trời hư vô trong hộp sọ. Rồi ông chẳng thể nào không cúi gục đầu vào hai lòng bàn tay. Ông lại nhớ đến hai người con khác, có lẽ họ đang sinh sống ngoài Trung. Cả hai đều đã có vợ, có chồng. Thật sự, ông cũng có một đàn cháu nội, ít ra là bốn đứa. ọó là con và cháu của một cuộc tình ngoài hôn thú hồi ông còn đội bom đi phát hành sách báo ở ngoại thành Hà Nội. Bố cô gái Gia Lâm ấy không cho con nhận ''chồng hoang'' là chồng! Hai con ông lớn lên cũng chả muốn trong khai sinh họ có tên ông! Ngoài những lí do xã hội vốn rất phiền phức, chính ông cũng đã hiểu vì sao ''vợ'' ông và con cháu dòng thứ hai của ông đến nay vẫn muốn quên ông đi. Mấy chục năm nay, nhất là sau khi vợ con chính thức của ông mất một thời gian, ông có nhiều lần tìm cách liên lạc với họ, họ vẫn một mực cắt đứt mối dây huyết thống. Ông mang dòng máu tư sản, lại thừa kế tài sản được xem là bóc lột! Đúng rồi. Và còn gì nữa? Có lẽ là lòng tự trọng, là danh dự của gia đình ''vợ'' ông... Mãi đến những năm cuối của thời bao cấp, ông hoàn toàn bặt tin họ. Họ đã chuyển đến tỉnh nào đó, có thể người tỉnh này, kẻ tỉnh kia với gia đình riêng, và ông cũng chả biết ''vợ'' ông hiện còn sống hay đã mất, sống thì ở với người con nào. Ông đã đăng báo nhắn tin, cũng không ai trả lời! Có tai họa nào đổ xuống cho họ không? Ông không rõ! Ước chi ông có thể tìm được ''vợ'' và con cháu để giúp đỡ họ, trao cho họ quyền thừa kế ngôi biệt thự này cùng số vàng khá lớn còn ở ngân hàng, ở cả nơi cất giấu của ông! Ông thở dài, bỗng mỏi mệt hẳn. Ờ nhỉ, chỉ còn bà con họ tộc ngoài Quảng Trị, đã xa xôi quãng cách. Ông lại thở dài, ngán ngẫm cho mình...
Đắm chìm trong nỗi buồn, nỗi hiu quạnh, ông thấy chỉ tổn hại sức khỏe. Đứng dậy, bước sang chỗ đặt tủ thờ, ông thắp một nén nhang. Tay bỗng lóng cóng, run nhẹ, ông thầm thì lời tâm nguyện và tưởng nhớ những người đã khuất. Ông nghe cảm giác nóng hổi của hai dòng nước mắt chảy dài trên hai cạnh mũi, mằn mặn trên môi. Cắm nhang vào lư xong, ông rút khăn tay lau nước mắt, tay chạm vào những chân râu hôm nay chẳng hiểu sao quên cạo.
Ông lại ngồi trước bàn nước, tự rót một chén đầy trà, lại quên bẵng đưa chén lên môi.
Ông ngồi vậy cho đến khi nghe một tiếng chuông chùa từ trên sân thượng. Bà Lụa Hà đã về. Ông tỉnh táo trở lại, muốn múa một bài quyền Bình Định. Bao lơn phía trước đã ngập nắng. Ông bước ra bao lơn phía sau. Ông đi quyền, chuẩn xác từng động tác bằng một sự cố gắng nặng nề, uể oải ban đầu, cho đến lúc mồ hôi toát ra, cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản. Ông thấy mình còn khỏe lắm.
Ông Hương Chữ bước vào nhà, gặp nụ cười của bà Lụa Hà bên bếp ga ở phòng nấu ăn.
- Sao sáng nay ông chăm tập thế?
- Ờ, cho đỡ oải người.
Ông đi ra phòng khách, ngồi xuống, với tay bưng chai nước khoáng, mở nắp, rót đầy li, uống một hơi. Gió từ quạt máy hóa ra nãy giờ chưa tắt. Ông mỉm cười, đứng dậy bước đến chỗ treo chiếc đàn bầu, lấy đàn xuống.
Đẩy khay trà sang một bên, đặt đàn, ông chỉnh lại dây và bắt đầu gảy bản ''Nhạc rừng'' (2) quen thuộc.
Chơi đàn được một lúc, ông lại cảm thấy nhẹ lòng hẳn, ngả lưng vào nệm ghế. Không muốn nhớ lại dĩ vãng, nhưng ông không thể không buồn, khi chuyện cũ lại chợt hiện ra trong óc!
Thuở ấy, cô gái của huyện Gia Lâm tuy đã vụng trộm với ông suốt ba năm trời, có với nhau hai mặt con, cô vẫn không được bố mẹ cho hợp thức hóa không giá thú. Bố mẹ cô vẫn phao tin với xóm giềng người yêu tội lỗi của cô là một anh nông dân ở huyện khác, nay anh ấy đã vào bộ đội, chiến đấu trong Nam. Năm năm sau khi sinh đứa thứ hai với ông, cô ấy lại lấy chồng, và chồng là một thương binh, cũng từng chiến đấu trong Nam, cũng ở huyện khác. Hai đứa con ông đã được điều chỉnh giấy khai sinh, khoảng trống bỏ trắng được điền vào tên người thương binh ấy! Cô ấy đã quên ông với nỗi đau hóa đá trong lòng, chỉ thỉnh thoảng cồn lên khiến cô trào nước mắt, rồi đâu cũng vào đó.
Trên ba mươi năm, ông lấn cấn mãi, cũng cố tìm cách nối lại liên lạc, tuy biết thế là tàn nhẫn với người thương binh kia, nhưng chút tàn nhẫn của ông cũng vô ích! Và còn bà Lụa Hà, người con gái yêu ông, chờ đợi ông suốt hai mươi mốt năm chia cắt! Tình xưa tươi đẹp, mối tình đầu ấy làm sao ông nỡ phụ, bởi không đành với bà, cũng không đành với trái tim ông, đa đoan, hệ lụy!
Ông Hương Chữ lại cố chơi một bản nhạc vui trên chiếc đàn bầu một dây độc nhất. ọộc nhất, vẫn ngàn giai điệu, vạn âm thanh huyền diệu. Cái độc nhất của độc huyền cầm tuyệt vời là thế. Cái độc nhất của số phận ông chỉ là cô độc! May sao vẫn còn có bà Lụa Hà, gia đình đứa con nuôi Cơ Dân, và con cháu của ông bạn đồng hương già Phùng Xứ dưới Hóc Môn thường xuyên ghé thăm ông.
Ông Hương Chữ gảy đàn, lại nhớ hồi những năm tám mươi, ông Phùng Xứ hay nhắc nhở ông ''kiếm'' một thằng nhóc nối dõi. Hồi đó, lấn cấn quá nhiều điều, cảm thấy cũng chẳng cần thiết nữa. Vừa gảy đàn, ông vừa lan man bao ý tưởng. Ông lại mỉm cười.
Rồi ông Hương Chữ thấy mình hóa thân thành chiếc đàn bầu một dây. Một nhưng phong phú đến lạ lùng! Phong phú của thanh âm không nắm bắt được bằng tay, không nhìn được bằng mắt!
Thôi, quên đi, quên đi - ông tự nhủ trong tiếng đàn bầu đang ngân vang, lúc hồn nhiên, lúc gượng gạo.
Không biết đây là lần thứ mấy trong đời, quá khứ với niềm đau thương, nỗi tủi nhục đã xòe nanh vuốt, cào cấu, cắn phập vào trái tim ông. Ông thầm tạ ơn âm nhạc đã xoa dịu, cứu rỗi bao cơn nhức nhối trong lồng ngực do trái tim phiền muộn, phiền muộn vì đa mang, vì thời thế! phiền muộn vì số phận! Những cơn nhức nhối ấy, bao bác sĩ đã bảo với ông, là ảo giác của những nỗi niềm có thật.
Trong tâm trạng đau buồn, vẫn cộm lên nỗi tủi nhục vì bị gia đình bên ''vợ thứ'' xua đuổi một cách ôn hòa mà quyết liệt, bởi lòng yêu kính người thương binh, lòng tự trọng và sự lo âu cho tương lai mình của hai đứa con ngoài giá thú. Họ đã chùi cái tên Đặng Hương Chữ trong ý niệm huyết thống của họ như chùi một vết bẩn đạo lí, một tai ương lí lịch!
Lúc này, chuỗi hồi ức đã tê điếng, vô cảm trong ông, tiếng nhạc vẫn réo rắt, thanh thoát dưới tay ông. Cả hai xô đẩy, chế ngự nhau, tạo nên một tâm trạng luẩn quẩn, rồi cuối cùng âm nhạc ríu rít niềm vui sống đã lấn át, vượt thắng. Vốn là một người rất thích nhạc buồn, viết về nỗi đau sâu thẳm và lớn lao của con người, nhưng ông biết, sẽ tự giết chết dần mòn chính mình nếu cứ mãi đắm chìm vào đó!
Một lần nữa, ông Hương Chữ ao ước, và cảm nhận rõ, ông được hóa thân thành độc huyền cầm dân dã mà cao diệu. Ông là cây đàn bầu hạnh phúc, hạnh phúc vì tự vượt thắng.
Ông mê mải đàn cả lúc những tiếng chuông chùa trên sân thượng cách quãng vang lên. Những sinh viên đã về. Họ đã cất sách vở để tự lo cơm trưa ở nhà bếp phía góc vườn, trước đây, thuở còn phải nấu bằng than củi, là nhà bếp chính của biệt thự.
Lúc ăn cơm trưa, bên li rượu nhỏ thuốc bắc, nhìn bà Lụa Hà ngồi đối diện - chỉ riêng hai người trong phòng ăn khá rộng kế sau phòng khách trên tầng lầu này - ông nghe bà nói:
- Sáng nay, trông ông, nghe tiếng đàn của ông, tôi biết ông lại trở cơn không vui. Quên đi ông ạ - bà nói lảng, không để ông trả lời - Hãng mới điện thoại đến, hình như ông không bắt máy. Ở trong bếp, tôi nghe qua máy phụ, sáng chủ nhật sắp tới nó sẽ cho thợ đến, còn tối nay nó sẽ đến trước để bàn với ông - bà Lụa Hà trở đũa, gắp rau, chấm vào chén mắm.
- Lâu nay, tôi cảm thấy hơi nhớ nó. Cái thằng! - ông cũng ăn bằng hai đầu đũa, gắp một miếng thịt kho đặt vào chén cơm - Nghe đâu ông Phùng Xứ, nội của Hãng, dạo này hơi yếu. Tội nghiệp ông ấy! Chính ông Xứ đã dạy tôi cái thú đàn bầu với sáo, lại giác ngộ cách mạng cho tôi năm xưa... - tay cầm đũa của ông Hương Chữ khẽ run - Tội nghiệp! Còn Cơ Dân, lẽ ra tôi mất xác lâu rồi, nếu hôm ấy, ở Tây Nguyên... Nó sinh ra tôi lần thứ hai đấy, bà ạ... - hình như cơn buồn khiến ông lẩm cẩm.
- Biết rồi! Sao nói hoài vậy ông! - bà Lụa Hà mỉm cười, gắp thêm cho ông một miếng chả rim, giục ông ăn cơm kẻo nguội.



10



Hơn một tuần nay, Hãng bối rối, xao xuyến, náo nức, bâng khuâng và có cả thất vọng, hồi hộp. Anh hồi hộp mong có Tre Trúc ở nhà, bởi ngoài giờ ở giảng đường, ở lớp, cô thường xuyên đọc sách tại thư viện. Anh hồi hộp mong được chuyện trò với cô gái xinh và duyên ấy. Hãng cũng nhiều lần thất vọng, vì hình như rất khác với em là Song Mây, Tre Trúc hơi dè dặt, kín đáo, ngại với người trong nhà khi chuyện trò cùng Hãng. Có lần, suốt buổi, ngồi ở sau khung cửa sổ mở ra sân, nhìn anh lúi húi với thợ đang uốn, chặt các loại sắt bê tông, cô chỉ mỉm cười hoặc cười với nụ cười đã phần nào hiểu lòng nhau - Hãng hi vọng là thế - khiến anh sung sướng đến rộn ràng lồng ngực. Đôi lúc, anh lại đoán chắc, ấy chỉ là những nụ cười giao tiếp sau dăm lần chuyện trò thoáng chốc, khiến Hãng buồn bã, rã rời!
Trong tuần rồi, Lúa Ngọc và Vũ Thương Hoài - Đào Hải cũng một đôi lần đến chơi. Những người trẻ tuổi đã quen nhau.
Lúa Ngọc và Thương Hoài đã khá thân với năm cô bạn gái, trong đó có cả Cái Thị Ô Châu - cái tên Ô Châu rất đỗi sử học với họ Cái quen thuộc, tuy ít người mang họ ấy.
Với Hãng, thời gian này, tất cả các cô gái trên đời đều trở nên vô nghĩa, duy một mình Tre Trúc đã chiếm lĩnh tâm hồn anh. Hãng không lưu tâm đến những giao tiếp của các cô gái ấy.
Hãng chỉ thấy không yên lòng khi biết quanh Tre Trúc còn có bốn chàng trai nom cũng tốt mã mà anh vừa đùa vừa thật gọi họ là các ''ông kẹ''. Đó là Nghị, chàng da nâu cao ráo, săn chắc với đôi mắt rất sáng, nói giọng Long Xuyên. Đinh Nghị đã học năm thứ ba Đại học Bách khoa. Đó là Đào Điện, da trắng xanh mặc dù suốt thời tuổi nhỏ và bảy năm trung học hít thở không khí mặn mòi Phan Thiết. ọó là Gió, Trần Ngát Gió, cái tên rất thi sĩ nhưng Gió lại học cơ khí - chế tạo máy ở ọại học Kĩ thuật, cùng năm thứ nhất với Điện. Gió, gương mặt cương nghị, những nét mặt đầy chất nam tính, đẹp trai rất châu Á, nói giọng Quảng Trị đậm đà. Còn Hoàng nữa! Trong bốn chàng tuổi trẻ ấy, Điện như một con kinh kông, cao đến một thước tám, lúng túng vì cảm thấy mình thừa kích thước ở mọi lúc, mọi chỗ. Tuy không yên lòng, Hãng vẫn đã lấy lại niềm tự tin, tự hào thầm kín. Anh đã dự cảm được Tre Trúc không thể là của ai khác!
Đôi lúc, Hãng nhận ra trong anh có nhiều ý tưởng và tâm trạng khá buồn cười với những so sánh vớ vẩn như thế.
Thật ra, từ khi gặp được Tre Trúc, Hãng như sống một đời sống khác. Anh vẫn miệt mài với khoa học, công nghệ và nghệ thuật kiến trúc, thậm chí miệt mài hơn nhưng lại bị phân trí hơn. Hai tháng vừa qua là cả trăm vực sâu, trăm đỉnh cao trong tâm trạng Hãng.
Công việc ở mảnh sân hình chữ nhật mượt cỏ và xanh cây kiểng, cách vách phòng có cửa sổ bốn lá kép của Tre Trúc một hành lang, một lối đi lát đá, cũng chẳng có gì nhiều. Vốn tâm của mảnh sân bên phải mặt tiền nhà là bể nước có vòi phun với hai lối sỏi hình chữ V, giao điểm là vòi phun ấy, nay Hãng mở thêm ba lối sỏi nữa. Ba lối sỏi trắng mới mở rẽ ra ba hướng, về phía giàn hoa màu tím, bên dưới là bàn ghế đá, về phía lối đi từ cổng vào tòa nhà, về phía góc của khuôn viên biệt thự, nơi có một bể cá kiểng lớn bằng thủy tinh, bên trên được che bằng một lá sen bên đóa sen bằng bê tông màu trắng. Năm lối đi rải sỏi trắng đều có các lá sen, đóa sen dọc hai bên, cũng màu trắng tuy nhỏ, thấp hơn. Giữa bể nước, ngay vòi phun, Hãng đang cho thợ đúc một lá sen với một đóa sen màu đỏ, cao vượt lên tầm phun của vòi nước, vượt cả hai cụm tượng xương rồng trên bờ bể.
Lá sen đỏ, đóa sen đỏ!
Đóa sen đỏ nở ra mười cánh đỏ, chung quanh gương sen vàng. Trên gương sen vàng là hai cuốn sách mở, nhìn lên trông như đôi chim bồ câu xòe cánh. Đó là đôi chim bồ câu màu đỏ, nhưng cũng là hai cuốn sách tươi thắm sắc đỏ.
Hãng định sẽ để hai cọng sen ngay giữa ''cây nước'' xòe bao nhiêu là tia nước lóng lánh ra tư bề. Cả nhà đều thích thú với bản vẽ thiết kế của Hãng. Hãng đã mấy lần ''tranh thủ'' tham khảo ý kiến của Tre Trúc! Có lẽ Tre Trúc cũng hiểu đó là cái cớ hơn là ý định tham khảo thật của anh, bởi lắm lúc cô nói, anh có nghe gì đâu! Trong khi cô đang chỉ tay vào bản vẽ, nói lên cảm nghĩ của mình, anh lại sững sờ nhìn gương mặt cô. Cô đang cúi xuống với cái nhìn vào đóa sen trên giấy can, nhưng cô cũng biết bằng trực cảm, cả bằng vài lần ngước lên, anh đang ngắm cô say đắm! Tre Trúc đỏ bừng mặt, thẹn thùng, nhưng ánh mắt thêm long lanh, những khi bắt gặp ánh mắt say đắm của anh!
Chiều qua, khi trong cốp pha đã đông cứng bê tông mác cao, thường dùng cho các công trình thủy điện và cầu cống có nước chảy xiết (khúc cốp pha ở chân cọng sen có đường kính khá lớn là bằng ống chất dẻo màu đỏ, sẽ để nguyên), Hãng chợt thấy bóng Tre Trúc, Trắng Cát, Ô Châu ở phòng khách nhà anh Cơ Dân.
Hãng vui mừng bước vào. Sau những tiếng chào, anh Cơ Dân lại chơi nốt bản nhạc mới của anh trên dương cầm.
Con gái là chúa tinh ý. Trắng Cát, Ô Châu đến bên dương cầm ngắm ngón đàn anh Cơ Dân, chỉ còn Hãng và Tre Trúc ở ghế xa lông. Tre Trúc hơi đỏ mặt rồi vội trấn tĩnh, còn Hãng, anh vui sướng lạ lùng.
Trong tiếng đàn thánh thót có âm sắc dân ca quan họ, Hãng nhìn Tre Trúc, khẽ nói:
- Tre Trúc thích âm nhạc không? - Hãng hỏi và tự biết anh đã vớ vẩn vì chẳng biết nói gì.
Tre Trúc gật đầu, cũng chẳng biết nói gì.
- Học tập dân ca rồi sáng tạo mới vẫn khó lắm, vì dễ lặp lại. Biết vậy, anh Cơ Dân vẫn kiên trì, và rất thành công, những thành công đáng giá. Những nhạc sĩ nước ngoài quen biết anh Cơ Dân rất thích - Hãng nói, sau một lúc ngập ngừng.
- Em nghĩ sen và xương rồng cũng rất dân gian. Lần đầu tiên Tre Trúc đến đây, có lẽ do nắng hay do gì nữa chẳng rõ, không nhìn ra hai cụm xương rồng, mặc dù ngắm rất lâu bể nước - Tre Trúc thấy khơi được mạch chuyện.
- Ồ, hai cụm xương rồng trên bờ bể nước, khá lớn chứ đâu phải nhỏ - Hãng cũng đã thoát sự ngượng ngập ban đầu.
- Biết vậy, nhưng không nhìn ra, kể cũng lạ - cô nói.
Hãng chợt hiểu:
- Vì chỏi quá, phải không? ọầm sen mà có giếng phun và xương rồng! Xương rồng không thể mọc trên bờ giếng giữa đầm được. Xương rồng chỉ chịu đất khô. Có lẽ là do vậy?
Tre Trúc hiểu, đôi khi cái nhìn bị chi phối bởi nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm. Lúc ấy, cô đang lo âu, ngại vô cùng, bởi đã hết chỗ trọ theo lời ông Hương Chữ, và bởi Song Mây! Cô rất ngại vì tính em gái rất bồng bột, xốc nổi, thiếu kìm chế xúc cảm... Quả thật lúc ấy, cô không nhìn thấy hai cụm xương rồng bởi những lẽ mà sau đó cô mới hiểu, bây giờ càng hiểu rõ thêm.
- Lúc này anh mới thấy tính phi lí, phi thực của tứ thơ trong kiến trúc Sen Trắng! - Hãng như đang cùng cô phát hiện ra điều đó, anh nói thêm - Cả những cây kiểng như các lá buồm nữa...
Tre Trúc mỉm cười:
- Thơ mà! Theo anh, với sự kết hợp phi lí, phi thực ấy, ông kiến trúc sư nào đó muốn chuyển tải điều gì?
- Giếng phun, phun từ mạch đất, gợi ý niệm tuôn trào từ nơi sâu thẳm, tinh khiết nhất. Nước đầm chưa hẳn sạch, thường là không sạch. Xương rồng, loài cây chịu gian khổ nhất, loài cây của sa mạc. Sen sẽ vô nghĩa nếu không mọc từ bùn, thơm gần bùn... Có lẽ cần phải làm một số động tác tổng hợp, tìm ra ý nghĩa chung? Tứ thơ không nên quá thật...
- Xương rồng sống giữa đầm sen là sống được ở một nơi ngỡ không sống được - Tre Trúc ngẫm nghĩ, chợt nói chêm vào. Hãng cười. Anh không muốn nói gì hết về cụm sen đỏ và ba con đường mới mở của anh trên bài thơ ''siêu thực'' với nhiều yếu tố tượng trưng, biểu tượng được viết bằng cây cỏ, xi măng, sắt, đá và nước ấy, có điều không phải ''viết'' bằng vô thức.
Chỉ những gợi mở, cả hai đã cảm nhận thật sâu tổng thể kiến trúc này.
- Triết lí, tư tưởng của nhà kiến trúc chẳng kém gì thi sĩ! Ngành của anh hay quá - Tre Trúc lại nói.
- Ngành ngữ văn học lại bao trùm lên bao ngành khác. Văn chương, triết học rất rộng, kiến trúc chỉ một bộ phận thôi.
Hãng nói, rồi chợt thấy chẳng lẽ chờ mong có dịp gặp Tre Trúc, để động não và thù tạc thế này, cho dù được động não với Tre Trúc là cả một hạnh phúc. Nhưng phải chi đừng xã giao như thế, xem có vẻ ''hữu nghị'' quá. Hãng im lặng, nhìn Tre Trúc với ánh mắt trong sâu thẳm trái tim mình. Ngồi im trong tiếng nhạc của anh Cơ Dân, Tre Trúc cũng chẳng biết nói gì!
- Tre Trúc nói gì đi chứ!
- Anh nói gì đi!
Cả hai cùng phá ra cười giòn tan.
Anh Cơ Dân, cả Ô Châu, Trắng Cát cười thầm trong lòng với họ, nhưng cả ba người đều ra vẻ đắm mình theo tiếng dương cầm, mê mải nhìn các phím ngà và các dòng nhạc.
Những câu nói vô nghĩa của hai người bắt đầu cảm mến, rung động trước nhau vẫn là những câu hay nhất.
Đó là buổi chiều đẹp nhất trong đời Hãng và Tre Trúc, mặc dù sau đó họ có nói gì có nghĩa với nhau đâu!
Mãi đến khi Lúa Ngọc đi làm ở một cơ quan nông nghiệp về, ghé vào thăm, rồi cùng Hãng về nhà, Hãng cứ ngẩn ngơ với niềm vui đến ngây ngất trong lòng. Đúng là ngây ngất dù chỉ nhìn nhau như thế. Ngây ngất, đến mức Lúa Ngọc cứ hỏi chuyện Hãng về Gió, Hãng chỉ trả lời qua loa rồi lại nói về Tre Trúc! Lúa Ngọc chẳng thấy thú vị gì khi nghe anh ruột của mình cứ nói mãi về cô ấy. Lúa Ngọc im bặt cho đến khi về tới nhà. Hãng cụt hứng rồi cũng im lặng với niềm ngây ngất trong tâm hồn. Đến lúc tắm xong, thay quần áo, ra đứng trước hiên nhà, Hãng mới tiếc rằng sao trên đường về anh không để Lúa Ngọc hé lộ những gì trong lòng cô, mặc dù Hãng biết em gái anh cố giấu giếm. Hãng cảm thấy yêu thương và rộng lòng với tất cả cõi người ta, lúc này.



1996



11



Tre Trúc đã ghi vào sổ tay danh mục sách tham khảo, từ những ngăn đựng các tấm phiếu bìa cứng giới thiệu sách đã được xâu qua bằng một gióng sắt tròn. Ghi xong, cô thấy cuốn sổ nhỏ bằng nửa cuốn vở trong tay mình trở nên quá nặng. Rời khỏi tủ thư mục, cô đến bàn đọc. Bàn cô chọn cũng đã có vài sinh viên đang vừa đọc vừa ghi chép . Sợ gây tiếng động, Tre Trúc kéo ghế se sẽ, rồi ngồi xuống, đặt mắt vào những dòng chữ mới ghi vội. Lúc ghi, cô gặp dăm cuốn đã được đọc ở tủ sách của anh Cơ Dân, nhất là ở tủ sách khá đồ sộ của ông Hương Chữ. Tre Trúc mừng thầm, nhớ những cuốn sách có đóng triện đỏ tên ông, cái tên đã dẫn dắt ông đi vào ngành phát hành sách, ngành chuyên mang những làn hương của chữ nghĩa đến với mọi ngõ ngách của cuộc đời. Sách như vậy, nghe thơ quá, đẹp quá, nhưng giờ đây, Tre Trúc biết, còn phải tìm đọc thêm một số không phải nhẹ trong thời gian tới.
Tre Trúc đến quầy mượn sách, ghi phiếu. Cô nhân viên sáng nay xem ra tử tế, niềm nở hơn mọi hôm. Nụ cười của cô ấy khiến Tre Trúc thấy nhẹ nhõm, được khích lệ.
Cầm cuốn sách đã mượn được, Tre Trúc về chỗ cũ lặng lẽ đọc. Suốt hai tiếng đồng hồ, cô đã đọc và suy nghĩ về đề tài của luận văn tốt nghiệp, ghi vào sổ những số trang cần chụp lại để làm tư liệu, tiện cho việc trích dẫn. Tre Trúc chợt nhớ các xấp phiếu tư liệu phải chép tay của ba mẹ vẫn còn được lưu giữ đến giờ, cô nghe ớn lạnh cho công phu đèn sách. Thời của Tre Trúc, rõ là nhẹ nhàng quá, tiện lợi quá. Cô mỉm cười đi đến phòng sao chụp và sang đĩa vi tính.
Trả sách xong, với mấy trang tư liệu trong cặp đã được ghi chú xuất xứ thêm, đúng theo yêu cầu nghiên cứu khoa học, Tre Trúc bước ra hành lang. Chưa vội lấy xe đạp, cô bước ra cổng để xem Hãng đã đến chưa.
Đưa tay chào Hãng từ xa, cô phác một cử chỉ để Hãng hiểu ý chờ thêm dăm phút. Tre Trúc bước nhanh vào chỗ gửi xe.
Dựng xe đạp và xe gắn máy trước xe nước mía bên lề đường, họ lại mỉm cười với nhau, bước đến một bàn trống dưới một tán cây đang tỏa bóng râm, cách thư viện mấy đỗi đường.
Bên hai li nước mía, họ nhìn ra đường phố đang ồn ào trong bụi bặm, khói xe. Xe cộ như mắc cửi. Tre Trúc bất giác úp bàn tay của mình lên miệng li khi thấy đường phố bây giờ có hơi nhiều người mang khẩu trang. Chính những khẩu trang này khiến Tre Trúc nhận ra bụi bặm, khói xe không thấy bằng mắt được, chỉ bằng xúc giác mỗi khi đến trường, mỗi lúc về nhà. Hãng không để ý, anh nhìn cô:
- Tre Trúc vẫn viết luận văn với đề tài ấy sao?
- Vẫn đề tài đó. Em đăng kí với ban chủ nhiệm khoa và thầy giáo hướng dẫn rồi.
- Sao chọn đề tài gì ''già nua'' quá vậy? - Hãng vừa cười mỉm vừa nhíu mày.
Tre Trúc bưng li lên, vẫn úp tay lên miệng li. Cô chúm môi hút nước mía mát lạnh qua ống nhựa giữa kẽ hai ngón tay. ọặt li nước xuống bàn, Tre Trúc nhặt một chiếc lá vàng mới từ trên cao rơi xuống cặp da trên đùi cô. Se se cọng lá, Tre Trúc nhìn qua Hãng, vẫn với nụ cười:
- Có người lại bảo đề tài ấy hơi ''thời trang''!
- Phong tục thờ cúng tổ tiên mà ''thời trang''? Trời đất, bộ hết trò đùa rồi chắc! - Hãng nhướng mắt, ngạc nhiên - Aắ, hay Tre Trúc xin đổi qua đề tài thời trang đi! - Hãng đùa.
Tre Trúc bật cười khẽ:
- Cũng hay đấy. Văn chương đụng vào đủ thứ. Thứ gì trên đời này cũng phản ánh vào văn chương. Khoa ngữ văn em đã thành lập thêm khoa Đông Phương học, chuyên biệt luôn đấy... Ờ, mà thôi, lúc này đổi mới rồi, cần ''về nguồn''. Đời sống tâm linh, xưa như trái đất, lại trở thành nhu cầu bức thiết đến mức thời thượng!
- Không phải đến bây giờ mới thành nhu cầu!
Tre Trúc gật đầu:
- Em diễn đạt theo cách những người không có nhu cầu đó. Nói đùa ấy mà. Thật ra, đó là bộ phận cốt lõi của văn hóa, cốt lõi nhất là đằng khác. Cổ lỗ nhất cũng là mới mẻ nhất.
Hãng gật đầu:
- Dù sao cũng ''già nua'' quá! Nhưng dạo này anh vẫn phải tìm hiểu về lĩnh vực ấy kĩ hơn. Kiến trúc cổ của nhân loại vẫn là kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng... Đúng là cốt tủy nhất thật... Và các lăng tẩm vua chúa trên thế giới, nghĩa là cái chết...
- Thấy chưa! Kiến trúc cũng bao hàm tất cả mọi đối tượng của văn hóa học! - Tre Trúc mỉm cười thú vị khi thấy Hãng không thể tránh được đề tài cô đang chọn - Kiến trúc nghìn xưa còn lại phần lớn vẫn là đình, đền, chùa, nhà thờ, tháp tín ngưỡng... Tượng điêu khắc cũng thế!
Suốt năm năm nay ngoài kiến trúc, vật liệu xây dựng, Hãng tự mày mò học thêm về điêu khắc. Hãng không thể tránh đề tài tâm linh, có điều cái nhìn của anh thiên về nghệ thuật và kĩ thuật thôi.
Nhìn ra đường, anh nói:
- Thôi được. Cũng hay. Có thể anh sẽ học thêm và kĩ hơn.
- Em gọi tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Việt Nam là Đạo Hiếu Nghĩa... - cô bỏ lửng ý đang nói - Còn đồ án tốt nghiệp của anh vẫn không thay đổi chứ?
- Vẫn kiến trúc tre trúc! - Hãng cười.
Tre Trúc đỏ mặt, ánh mắt long lanh, vừa cảm động vừa muốn phì cười với sự hóm hỉnh của Hãng:
- Thôi, trưa rồi. Mình về đi.
Trả tiền xong, hai người đi song song về nhà ông Hương Chữ. Chỉ những đoạn nhác thấy công an giao thông, hai cô cậu sinh viên yêu nhau này mới tách ra kẻo sợ bị phạt.
- ''Vi phạm văn hóa đi đường'' cũng là ''văn hóa sinh viên'' đó chứ, phải không anh Hãng? - Tre Trúc đùa.
- Nhưng cũng phải cẩn thận kẻo có ''văn hóa đụng độ'' giữa đường, phải mất công sửa xe, và đi bệnh viện! - Hãng như thể đang đập lại quả bóng bàn Tre Trúc mới vụt qua với tiếng cười khẽ, như những hôm ở hội quán thể thao.
Dưới nắng trưa, họ đi xe đạp, xe gắn máy bên nhau chầm chậm. Tuy đã sắp làm lễ hứa hôn, Tre Trúc vẫn không đồng ý để Hãng đưa đón bằng chiếc cúp tám mốt của anh. ọiều này làm Hãng ban đầu hơi tự ái, nhưng dần dần, cùng đi song song thế này, anh cảm nhận được sự thú vị của người đi chậm với vẻ thư thả - anh nghe nói đó là phong thái Huế, một kinh đô cổ Hãng chưa có dịp nào ra thăm. Cũng đôi lúc, anh thấy thành phố Hồ Chí Minh tất bật, năng động quá, chỉ mỗi Tre Trúc bên Hãng xem ra ung dung, nhàn hạ, ''hiền triết'' thế này thôi!
Quanh hai người yêu nhau, ánh nắng trưa Sài Gòn vẫn chói chang, cuồng nhiệt. Rực rỡ. Nôn nả.
Như những lần khác, Hãng quay xe gắn máy để về hiệu sách khi tiếng chuông chùa từ sân thượng tầng hai lan ra, vang ngân lên ngực họ, ở cổng biệt thự Sen Trắng.
Trên đường về hiệu sách của ba má, Hãng chợt nhớ có lần một người bạn làm thơ của anh Cơ Dân đã nói, với nỗ lực gạn lọc, với phép biện chứng của thực tiễn cõi sống, phủ định của phủ định, các giáo thuyết, tín ngưỡng, triết học... vẫn thấm sâu vào mạch sống dân tộc, thành một tổng hòa hoặc những dạng rất Việt Nam, lại rất riêng ở mỗi người, như ở Tre Trúc, ở chính Hãng... Hãng vẫn hiểu, đó là một nhận định còn bỏ lửng...



12



Mưa mùa hạ rơi trắng xóa cả khu vườn. Nơi Tre Trúc với Hãng đang ngồi nhấm nháp cà phê và nhìn mưa là một quán lạ. Cơn mưa đổ vội buộc họ phải vào đây. Nhờ tình cờ, cả hai ngỡ ngàng phát hiện ra một ngôi biệt thự cũ kĩ gần như hoang phế giữa thành phố đang náo nức tân trang, xây dựng mới. Chủ quán cà phê có lẽ chỉ thuê mặt bằng ở đây, dựng các mái quán tiền chế, dễ dàng lắp ghép hoặc tháo rời để di chuyển. Rêu xanh trên mái ngói, tường vôi của biệt thự với ánh đèn điện vàng úa, trong cơn mưa nặng hạt, mở ra trước mắt họ một hình ảnh lạc lõng và khá lạ lẫm. Khu vườn đầy lá rụng, những gốc cây lưu niên vẫn xanh các tán lá, trông quá đỗi hoang sơ.
Dạo này, họ thỉnh thoảng bất giác nhìn vào bàn tay trái của nhau, rồi nhìn nhau mỉm cười trìu mến. Tre Trúc và Hãng không ngờ họ đã đính hôn với nhau sau hơn chín tháng quen biết rồi yêu thương nhau. Hai chiếc nhẫn ba mẹ hai bên đã gắn vào tay họ, trước dăm bàn tiệc nhỏ ở Hóc Môn với hơn ba mươi nụ cười quen thân nở ra chung quanh, giờ đây đang sáng lên màu vàng của kim loại, dưới ánh đèn. Hạnh phúc hóa ra đơn sơ, giản dị đến vậy. Họ đã đính ước với nhau, thật ra là giao ước giữa hai họ, Phan và Phùng. Đến lúc này, một tuần lễ rồi, Tre Trúc vẫn còn bỡ ngỡ, còn Hãng, bởi anh quá say đắm với hạnh phúc, có khi anh vẫn chưa tin lễ đính hôn ấy là thật, vẫn thoáng ngờ ngợ, cứ tưởng chưa phải giấc mơ đẹp đã thành hiện thực.
Tre Trúc và Hãng cũng đã thi tốt nghiệp xong, sau mấy tháng cuối năm học rất căng thẳng với sách vở, luận văn, đồ án.
Có gì vội vã quá không? - Tre Trúc thầm nghĩ. Nhìn mưa đang xối xả trút, trong cô lại thoáng qua một chút lo âu vô cớ. Hãng như sợ mất đi một hạnh phúc anh sẽ chẳng bao giờ tìm ra lần thứ hai trên đời này, nên Hãng nôn nóng quá chăng? Không dám nghĩ đến sự đổ vỡ, nhưng Tre Trúc cảm thấy cô đã bị tình yêu đương cuồng nhiệt, có lẽ sợ phải đánh mất tình yêu ấy của Hãng lôi kéo đi, đến mức cô hơi bối rối, đâm ra hơi lo âu. Nhưng bản tính Hãng là thế, chân thành, say đắm và hối hả. Tre Trúc yêu Hãng biết chừng nào, có điều không thể không âu lo. Dẫu sao, không thể khác được nữa rồi!
Lúc này, Hãng nhìn mưa nhưng đang vẽ vời tương lai.
- Anh định mười ngày nữa sẽ khởi công sửa chữa nhà để xe ở Sen Trắng.
Tre Trúc đâm ra thụ động, chỉ mỉm cười. Cô nhớ trước lễ hứa hôn, ông Phùng Thứ và bà Hồng Tĩnh - bây giờ Tre Trúc đã tập gọi bằng ba, má - đã đến chồng số vàng ở phòng khách ông bà Hương Chữ. Cô biết, ba mươi cây vàng vô nghĩa đối với ông Hương Chữ, nhưng ông đành phải nhận cho mọi người yên tâm, vui vẻ, và chừng như ông còn có ý định phòng xa gì đó...
- Anh thấy trong óc anh, tư duy đối xứng của nghệ thuật kiến trúc hình như nó làm sao ấy... - Hãng ngập ngừng - Nhưng đành phải ''liệu cơm gắp mắm'', tính toán theo túi tiền thôi. Chắc chỉ sửa chữa lại như nhà anh Cơ Dân. Thế cũng tốn kém nhiều rồi... Tre Trúc thấy sao? - anh nhìn cô.
Tre Trúc vẫn nhìn ra mưa. Cô quay lại, chia sẻ với Hãng:
- Tùy anh - bất giác Tre Trúc thốt ra hai chữ quen thuộc, ''tùy anh'', bà nội cô rồi đến mẹ cô thường hay nói - Kiến trúc là nghề và nghiệp của anh mà.
Hãng cười:
- Anh lại tùy thuộc vào cái nhà xe cũ kĩ phải gió. Anh đã đo đạc lại rồi. Nó y hệt cái kho cũ, chỉ khác là không có vách mặt tiền. Thôi thì đành vậy. Tòa nhà lớn ở giữa, hai nhà ngang giống nhau ở hai bên.
- Có thuật phong thủy, địa lí gì ở sự đối xứng ấy không? - Tre Trúc nhấp một ngụm cà phê, suốt mấy tháng nước rút ở cuộc đua sách vở, cô trót nghiện mất - ''Tả phù hữu dực'' gì đó mà. Trái và phải đều giúp đỡ, phò tá...
- Thường là vậy. Và cũng thường là chia căn theo số lẻ. Căn chủ là căn giữa, phải rộng hơn, dù chỉ vài phân. Anh đã biến bốn căn thành ba căn. Căn giữa là căn đôi (3).
- Căn đặt bàn thờ tổ và tiên (nội tộc và cội nguồn) là căn chủ chứ gì. ọặt đòn tay, người Việt - Kinh còn tính theo trật: sinh, lão, bệnh, tử. ọó, tín ngưỡng thấm sâu vào nếp ở như vậy...
- ọúng rồi. Nhưng vấn đề còn là túi tiền nữa - Hãng lại cười - Đa số nhà ngang chỉ một và ở bên trái nhà lớn thôi.
Hãng lại chìm vào tính toán. Anh rút cuốn sổ nhỏ, chiếc máy tính bỏ túi từ túi xách. Hãng chăm chú với những con số, các chữ ghi tên vật liệu. Cây bút bi xoay xoay trên mấy ngón tay. Tre Trúc vẫn nhìn mưa, lặng lẽ. Quán vắng, chỉ dăm bàn có khách. Tiếng nhạc êm dịu, ngọt ngào. Cô bỗng nghe tiếng cành cây khá lớn bị tước gãy, đổ ào trên đường ngoài kia với tiếng xe thắng gấp, trượt trên đường mưa, tiếng xôn xao ngoài và trong quán, cùng lúc với tiếng gió xoáy mạnh. Hoảng hốt, nhưng cả Hãng lẫn cô thấy yên tâm, khi đã phóng cái nhìn quan sát ra chung quanh, biết cây trong vườn đều thấp.
- Không có gì! Một nhánh cây lớn bị gãy, may chưa nhằm ai - tiếng anh chủ quán thông báo, trấn an khách, lúc một cô bé khoảng mười sáu tuổi vừa xin lỗi khách vừa quét miểng vụn của tách sứ vừa bị quơ tay thảng thốt làm vỡ, trong tiếng cây gãy nhánh vừa rồi.
- Ngoài kia gãy đổ, trong này rơi vỡ - một người khách đùa tếu nhưng chỉ có mỗi một tiếng cười hưởng ứng.
Tre Trúc vẫn lặng lẽ nhìn mưa, Hãng vẫn cắm cúi tính toán vật liệu anh đã khảo giá. Tre Trúc thầm nghĩ, dẫu sao vẫn còn đến hai tháng nữa mới tới ngày làm lễ cưới. Hãng, hai mươi sáu tuổi. Tre Trúc, hai mươi hai. Tuổi hai mươi của họ có trẻ con quá không - Tre Trúc tự hỏi - trước một việc hệ trọng đến vậy? Cô lại suy nghĩ đến việc làm. Không thể sống chung để chỉ ngồi nhìn nhau. Cô hiểu cả hai đang nắm tay nhau bước tới một bước ngoặt của những bước ngoặt trong đời người, trong đời nhau. Cô đã thầm mừng cho sự thuận lợi của Hãng và của mình. Nhưng vẫn còn đó những lo âu vô cớ. Bất giác, lại bất giác, Tre Trúc định hỏi Hãng, anh có cần phải gia cố móng trước khi cơi nền không, nhưng rồi cô chỉ im lặng.
Tre Trúc vẫn nhìn mưa. Mưa đã ngớt hạt. Lá khô sũng ướt, ngả sang màu đất. Trên những tán cây, lá xanh mướt cơ hồ sáng hẳn lên với nước mưa lấp lánh dưới sắc trời đã quang tạnh. Ngôi biệt thự rêu phong lại hiện ra rõ nét hơn: có vài cây dương xỉ mọc trên mái ngói và cả ở trên vách vôi loang lổ, bong lở, lâu năm không quét vôi lại, ngay cả bóng đèn vàng úa cũng cũ kĩ.
Nắng lại sáng lên. Một đàn sẻ nâu lại lích rích sà xuống sân vườn. Những đôi chân xinh xắn, gầy guộc, nhỏ bé như nhảy nhót. Rồi cả đàn cùng nhất loạt bay vụt lên mái ngói sẫm màu rêu khô đẫm nước, xen lẫn với màu lục sáng của dăm đám rêu mới, tươi sắc. Lũ chim sáng hẳn lên trong màu nắng chiều mát mẻ. Tre Trúc chợt nhớ một bài thơ với tứ thơ rất bâng quơ: tiếng chim chưa bao giờ cũ! Cô mỉm cười, mơ hồ một cảm giác yên lòng. Bốn chuỗi chữ gồm hai mươi bốn hạt mưa, có khi ngỡ là nắng, nhưng thật ra là hai mươi bốn giọt âm thanh đang rơi, đang bay đâu đó trong màu cây lá và cỏ hoa:
vườn xanh quen, sao bỡ ngỡ
bên nhau chẳng có ngày thường
tiếng chim chưa bao giờ cũ
mới hoài lời em yêu thương. (4)

Tre Trúc lại mỉm cười, cảm thấy yên lòng thật sự, cho dù trước những gãy đổ, rơi vỡ của bao cuộc hôn nhân hối hả, nôn nóng trong thời buổi xã hội đang có bao cơn lốc ngầm, do sự va chạm của những luồng gió văn hóa.



13



Tháng này biệt thự Sen Trắng vắng lặng hẳn đi. Các sinh viên đã về quê, ở Long Xuyên, Đắc Lắc, Phan Thiết, Tam Kỳ, Quảng Trị. Quê hương thứ hai của Hoài Hương và Hoàng xa quá, tận nước Mỹ xa xôi đến tận nửa vòng trái đất, họ đành mang ba lô lên vai, ra thăm bà con ruột thịt ở Quảng Trị rồi rong ruổi ra thủ đô Hà Nội cho biết. Đất đã lên Buôn Ma Thuột để cùng ba má lo cho trang trại đang vào mùa mưa, mùa vụ chính ở miền cao nguyên đất đỏ ấy, không thể ở lại cùng với chị Tre Trúc. Song Mây dạo này, sau bảy tháng yêu đương cuồng nhiệt, không đắn đo, hối tiếc với anh Mai Tự, cô đâm ra buồn đến ngơ ngẩn. Song Mây phải ở lại với chị Tre Trúc để cùng chị và anh Hãng lo việc sửa lại nhà để xe thành nhà ở, với tâm trạng của kẻ mất hồn. Tre Trúc và Hãng cũng đồng thời phải đi xin việc làm. Cả hai muốn ổn định hai cái cơ bản nhất, công việc và nhà ở, trước khi làm lễ cưới vào đầu tháng mười.
Trong nắng mùa mưa, mưa mùa hè của thành phố, họ chở nhau đi đến những chỗ quen biết có thể giúp đỡ họ kiếm được nơi thu nhận, cả những trung tâm giới thiệu việc làm. Họ cũng đến các tòa soạn báo chí, xin được đăng các mẩu tự giới thiệu để được gọi tuyển dụng. Thật lòng, Hãng không muốn nhờ vả thần thế của Vũ Thương Hoài như cô ấy đã hứa từ hai năm về trước. Hãng không muốn mình trở nên nhỏ bé, với tư thế của kẻ chịu ban ơn. Phần khác, Hãng đọc thấy sự lạnh nhạt của cả Thương Hoài lẫn của Tre Trúc khi hai cô gái này gặp nhau. Sự lạnh nhạt có chút gì khiêu khích, ganh tị của các cô gái chăng? Hãng không rõ, sợ mình nhận xét nhầm. Thương Hoài không thô tháp như Lúa Ngọc, nhưng rõ là không thể sánh được với Tre Trúc. Xinh và duyên, còn kín đáo và đằm thắm, nhạy cảm và sâu sắc nữa, ấy là Tre Trúc. Nhưng dẫu sao, Thương Hoài chỉ ganh tị, khiêu khích Tre Trúc, nếu quả thật như vậy, với trái tim của một cô gái giàu lòng tốt. Ở Tre Trúc, chẳng biết phải không, lại có vẻ khiêu khích, ganh tị của kẻ tự trọng, lòng tự trọng của người cảm thấy mình yếu thế, rất đời thường, rất muôn thuở, xen lẫn với niềm kiêu hãnh ngấm ngầm về nhan sắc, một lợi thế ở đời mà tận thâm tâm Tre Trúc vẫn xem là lợi thế tầm thường. Tuy xem nhan sắc là lợi thế tầm thường của kẻ tầm thường, kẻ không tự làm nên giá trị cho bản thân mà chỉ hưởng vẻ đẹp trời cho, nhưng rồi Tre Trúc vẫn phải vin vào nhan sắc để ngấm ngầm chống lại sự khiêu khích, ganh tị của Thương Hoài! Hãng mơ hồ nhận ra điều đó. Và anh đành chở Tre Trúc đến những nơi nào anh có thể đến, ngoại trừ nhà ở, cơ quan ông Vũ Hồng Ngà, thân sinh của Vũ Thương Hoài!
Suốt gần hai tháng, vừa lo vật liệu xây dựng để sửa nhà, vừa đi xin việc, cả hai vợ chồng sắp cưới này nom hốc hác hẳn đi. Anh Cơ Dân, ông Hương Chữ cũng giúp họ, nhưng về việc làm, họ thấy hai người này xem ra cũng bó tay. Ông Hương Chữ vốn đâu có thế lực gì, lại đã về hưu mười mấy năm rồi. Anh Cơ Dân chỉ là phó thường dân, chỉ giao du với văn nghệ sĩ vốn khinh miệt kẻ ỷ quyền lực lẫn kẻ tài phiệt hãnh tiến. Mặc cảm, sự đời muôn thuở vẫn vậy! Rồi cuối cùng, Hãng đành bấm bụng chịu sự giúp đỡ của Vũ Thương Hoài và ông Vũ Hồng Ngà. Còn Tre Trúc, vẫn đang cảnh thất nghiệp.
Tuy đang vào tháng cuối của mùa mưa, Hãng vẫn tiến hành việc sửa chữa nhà, với lều, bạt để trộn vữa, để che chắn những trận trời đổ nước như trút, thứ nước rất có hại cho độ đông kết, độ bền của bê tông.
Khi những sinh viên trở lại trọ học, tháng chín, chắc hẳn họ sẽ thấy một ngôi nhà y hệt nhà anh Cơ Dân ở phía hông trái của tòa nhà lớn. Hãng đã vạch kế hoạch như vậy.
Từ khi có mặt trong buổi tối chồng số vàng mua lại nhà để xe của ông Hương Chữ, số vàng ba mươi lạng từ xách tay của bà Hồng Tĩnh, anh Cơ Dân thấy đậm hơn trong mình tâm trạng tầm gửi, ở nhờ. Anh ước chi mình cũng có được ba mươi lạng như Hãng để nhẹ lòng, thoát khỏi cảnh tầm gửi. Anh đâm ra hơi buồn tủi.
Hôm bàn với Hãng việc sửa nhà, anh Cơ Dân cũng đã trở lại với vẻ vui và hóm hỉnh, têu tếu thường ngày.
- Tre Trúc bảo ''tả phù hữu dực'' sao? Nghe có vẻ xưng hùng xưng bá quá. Ông cụ ở nhà nghe được, ổng quát cho một trận bây giờ đấy nhé. Hơn ai hết, ông bố nuôi của mình sống rất thu thân suốt hai mươi mấy năm nay, từ khi về thừa kế biệt thự này. Chắc bà xã nhà cậu đùa thôi - anh cơ Dân đã dùng từ ''bà xã'', như thể Hãng với Tre Trúc đã cưới nhau - Ở Sài Gòn này, Sen Trắng có là gì lắm đâu!
Hãng cũng vui vui với ý nghĩ Tre Trúc đã là vợ mình. Anh nói:
- ọó là quan niệm cổ truyền kiểu đại gia đình ngày xưa, chẳng nhất thiết là vua chúa, quan lại mới có ''tả phù hữu dực''. ọó cũng là sự thể hiện ý niệm đối xứng, có đôi có đũa, âm sánh vai cùng dương. Tuy vậy, nhà phụ, phổ biến vẫn bên trái. Bên phải để trống. Tre Trúc chỉ nói đùa thôi! Nhà cửa thành phố, chen chúc, chật chội, thiếu quy hoạch, quá tùy tiện, tự phát, còn nói chi đến đối với lại xứng. Và tùy túi tiền nữa! Kiến trúc hiện đại vẫn chấp nhận độ lệch nghệ thuật có tính đến kĩ thuật. Anh hình dung thử, nhà em hệt nhà anh, xem thế nào? Em bị bó buộc bởi nền cũ, vách cũ, đủ thứ... Trong sáng tạo, bị câu thúc, bị hạn chế, phải lặp lại, đau lắm!
Anh Cơ Dân nhắm tít hai mắt, vội mở ra với nụ cười:
- Cũng hay. Cậu đã trở thành bậc sư trong lãnh vực này, mình có biết cóc gì về kiến trúc đâu.
Hãng thấy không bằng lòng lắm với việc lặp lại một bản vẽ, nhưng cũng đành lòng, và chợt thấy anh rơi vào trường hợp của khối người suốt đời lo cho nhà cửa thiên hạ thật mĩ thuật, còn bản thân phải chịu cảnh ở lều, ở hóc. Tất nhiên Hãng vẫn biết anh ở trường hợp đã quá may mắn.
Hãng biết mình thuộc loại tốt số so với quá nhiều người. Trong Hãng, có niềm tự hào, có cả nỗi xấu hổ về sự tự hào ấy. Anh biết mình đã tự làm được gì đâu! Hãng thấy chính anh phải tận dụng những thuận lợi ban đầu để phải tự học, phải nghiên cứu, sáng tạo nhiều hơn nữa như những kiến trúc sư nổi tiếng xa xưa, những Nguyễn An, những Cao Lỗ, những Vũ Như Tô, những Nguyễn Gia Thiều và các bậc thầy hiện còn sống, còn sáng tạo trên đất nước.
Cuối tháng tám, những trận mưa chiều cuối mùa hạ phương nam vẫn rộn ràng, náo nức, tuyệt vời với một người tốt số là Hãng. Tre Trúc vẫn đoan trinh, kín đáo, thầm lặng, thoáng chút lo âu về Hãng với sự nôn nóng của anh. Nhiều đêm, nằm ngủ bên Song Mây, cô thấy giữa tính cách Hãng với cô vẫn có những gì rất dễ gây nên xung khắc. Ngoài ra, cô đã biết vì sao em gái buồn, nhưng không tài nào hiểu hết và cấm được em mình. Niềm lo ngại của Tre Trúc về em gái từ vài năm nay, cô mơ hồ, đã chuyển thành sự xấu hổ, nhục nhã. Tre Trúc rất sợ phải để bản thân, ba mẹ, cả Đất nữa, sẽ mang tiếng thị phi bởi Song Mây. Gần đây, cô sợ phải xấu hổ với Hãng, với bao người thân quen của anh biết bao! Tre Trúc còn nhớ, ngày đầu tiên đến xin trọ học ở Sen Trắng, c